Luật Ba Lan

Bảo hiểm xã hội tại Ba Lan (3): Lương hưu

Cập nhật lúc 14-06-2016 17:35:35 (GMT+1)
Thẻ của người về hưu và về mất sức

 

Ba Lan muốn điều chỉnh tuổi hưu, sao cho Người LĐ nữ có thể làm việc đến 35 năm, còn nam đến 40 năm. Đối với Người LĐ sinh sau 1948, quyền nhận lương hưu không phụ thuộc vào độ dài của các thời kỳ chịu bảo hiểm. Tiền trợ cấp tang lễ cũng được chú trọng.


> Bảo hiểm xã hội tại Ba Lan (2): Quyền lợi của người chịu bảo hiểm xã hội và bảo hiểm sức khỏe

1. Điều kiện để được công nhận lương hưu

Người chịu bảo hiểm hưu trí có quyền về hưu nếu thỏa mãn đồng bộ các điều kiên sau:

1/ Đạt tuổi về hưu – Cho đến nay tuổi về hưu tại Ba Lan vẫn là tròn 60 tuổi đối với nữ vàtròn 65 tuổi đối với nam. Tuy nhiên, từ 01.01.2013 đã có luật tăng tuổi hưu lên 67 tuổi, đối với cả nam và nữ. Song đến cuối năm 2015 Quốc hội đã thông qua Đạo luật quay lại tuổi về hưu trước đây. Trong thời gian chờ Tổng thống phê chuẩn, từ 01.01.2016, tuổi về hưu của những người nữ đã đến 60 tuổi và nam 65 tuổi đều được cộng thêm 10 tháng.

2/ Có thời kỳ đóng phí và không đóng phí ít nhất tính ra:

  • Đối với người sinh trước 01.01.1949 – là 20 năm đối với nữ và 25 năm đ/v nam. Tuy vậy, lương hưu cũng dành cho Người chịu bảo hiểm có thời kỳ đóng phí và không đóng phí ít nhất là 15 năm đ/v nữ và 20 năm đ/v nam. Song đ/v những người này, khoản tiền hưu không thể nâng lên đến mức lương hưu tối thiểu.
  • Đối với người sinh sau 31.12.1948 – điều kiện để nhận được quyền về hưu là đạt tuổi về hưu, còn lương hưu sẽ dành cho họ bất kể độ dài của các thời kỳ chịu bảo hiểm hưu trí là như thế nào.

Thời kỳ đóng phí là những thời kỳ có trả phí cho BHXH, trong đó có bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm mất sức, và những thời kỳ được Người lập pháp công nhận là thời kỳ đóng phí (Td thời kỳ được tuyển dụng đ/v người sinh trước 1949). Còn thời kỳ không đóng phí là những thời kỳ không hoạt động nghề nghiệp, được coi là không phải trả phí bảo hiểm vì những lý do được xác định bởi Người lập pháp.

Tổng các thời kỳ không đóng phí được chú ý đến ở mức không vượt quá 1/3 tổng số cácthời kỳ đóng phí có chứng từ.

Các thời kỳ không đóng phí có thể kể ra làm ví dụ như:

  • các thời kỳ hưởng lương do mất khả năng lao động được chi trả trên cơ sở các quy định của Bộ Luật lao động (hoặc các quy định riêng),
  • thời kỳ học trong các trường đại học (kể cả nghiên cứu sinh) theo một hướng, với điều kiên tốt nghiệp khoa học này ở mức đã được xác định trong chương trình học.

2. Cách tính lương hưu

Việc tính lương hưu được dựa trên cơ sở của Đạo luật từ ngày 17 tháng 12 năm 1998 về lương hưu và lương mất sức lấy từ Quỹ bảo hiểm xã hội:

1/ Tính tổng số năm-tháng-ngày có đóng phí a (tháng) và không đóng phí b (tháng).

2/ Chọn sao cho có lợi nhất 10 năm lịch có bảo hiểm kế tiếp nhau trong 20 năm lịch ngay trước năm nộp đơn xin về hưu, hoặc 20 năm tùy ý của toàn bộ thời kỳ chịu bảo hiểm.

3/ Tính chỉ số trung bình c% của mức lương hưu, bằng cách:

  • tính tổng thu nhập lập nên cơ sở của mức phí cho BHXH của từng năm đã chon c1,...,c10 (zł),
  • tra tìm khoản tiền lương trung bình hàng năm đã được công bố theo năm lịch d1,...,d10 (zł) – có thể tra mạng internet hoặc hỏi ZUS,
  • tính tỷ số % của các số liệu kể trên cho từng năm với độ chính xác đến 2 con số sau dấu phẩy:

e1% = c1 / d1,..., e10% = c10 / d10,

  • tổng cộng 10 năm các tỷ số vừa tính ra, rồi chia cho 10 thì được kết quả cần tính:

e1% + … + e10% = e%, suy ra c% = e% / 10.

4/ Tra tìm món tiền cơ sở – kwota bazowa – A (zł), do Tổng cục Thống kê GUS công bố trong dạng thông báo hàng năm trong Tạp chí Công vụ „Monitor Polski” của Cộng hòa Ba Lan. Trong năm 2015 A = 3408,62 zł.

5/ Tính ra cơ sở của mức lương hưu B = c% x A (zł).

6/ Mức lương hưu được tính ra theo luật định, gồm 3 phần:

  • 24% của món tiền cơ sở A (zł), được gọi là phần lương hưu xã hội:

D = 24% x A (zł),

  • 1,3% cơ sở của của mức lương hưu cho mỗi năm của các thời kỳ đóng phí:

E = (1,3% x B) x (a / 12) (zł),

  • 0,7% cơ sở của mức lương hưu cho mỗi năm của các thời kỳ không đóng phí:

F = (0,7% x B) x (b / 12) (zł)

Vậy mức lương hưu được tính ra là: G = D + E + F (zł).

Và như vậy, đối với những người sinh trước 01.01.1949, việc tính lương hưu đến đây là đủ.

3.Tính lương hưu đối với những người sinh sau 31.12.1948

Các quy định của Đạo luật từ ngày 17 tháng 12 năm 1998 bắt buộc ZUS phải xác định vốn ban đầu đ/v những người sinh sau 31.12.1948, nếu họ đã chịu bảo hiểm trước 01.01.1999.

Vốn ban đầu được hiểu đó là giá trị tái tạo của các phí BHXH đã được trả trước ngày 01.01.1999 – ngày được lấy làm mốc của cải cách BHXH.

Từ đó, mức lương hưu của những người này còn phụ thuộc vào khoản phí bảo hiểm hưu trí, được định danh trong ZUS sau 1998 trong tài khoản bảo hiểm cá nhân và vào khoảnvốn ban đầu này.

Phần lương hưu K, được tính ra từ các khoản này sẽ được tính qua phép chia cơ sở của việc tính nó, tức là khoản phí bảo hiểm hưu trí H1 (zł) đã được định danh trong ZUS và khoản vốn ban đầu H2 (zł), cho độ kéo dài trung bình tuổi thọ J (tháng) của người xin về hưu:

K = (H1 + H2) / J (zł).

Các số liệu H1 và H2 do ZUS cung cấp theo đề nghị của người nộp đơn xin về hưu, còn J do Tổng cục Thống kê GUS công bố.

Cuối cùng, mức lương hưu trong trường hợp đang xét sẽ được tính ra, theo luật định là

P = m% x G + n% x K (zł),

trong đó, m% & n% là các chỉ số % do Luật định, phụ thuộc thời điểm tính lương hưu. Cụ thể trong các năm 2013, 2014 có m = 20%, n = 80%.

Việc tính lương hưu do ZUS thực hiện. Quá trình tính trên đây có thể cần đến khi rà soát kết quả nhận được từ ZUS.

Ngoài ra, lương hưu cũng phải chịu khấu trừ phí bảo hiểm sức khỏe và thuế thu nhập cá nhân.

4. Trợ cấp tang lễ

Người thỏa mãn một trong những điều kiện dưới đây, có thể nhận được trợ cấp tang lễ:

  • người chết xuất thân từ gia đình của người đang đươc bao bởi bảo hiểm mất sức trong ZUS, đang hưởng lương hưu hoặc lương mất sức,
  • người chết đã được bao bởi bảo hiểm mất sức trong ZUS, đã hưởng lương hưu hoặc lương mất sức hoặc đã thỏa mãn những điều kiện để nhận được lương hưu hoặc lương mất sức,
  • người chết đã không có bảo hiểm, nhưng đã có trợ cấp bệnh tật hoặc chế độ hồi sức.

Tiền trợ cấp có thể do người trả tiền mai táng nhận. Có thể đó là người trong gia đình, nhưng cũng có thể đó là người lạ hoặc cơ quan (Người tuyển LĐ, nhà trợ giúp xã hội, pháp nhân của nhà thờ hoặc các hiệp hội tôn giáo).

Xin đọc tiếp Phần 4 – BHXH đối với người nước ngoài tại Ba Lan

Nguồn: Nguyễn Quỳnh Giao/ Queviet.eu

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

 

Tiêu điểm
Quảng cáo