Luật Ba Lan

Luật mới về quốc tịch Ba Lan

Cập nhật lúc 23-08-2012 18:20:37 (GMT+1)
Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

 

Luật mới về quốc tịch Ba Lan có hiệu lực từ ngày 15.08.2012 (Luật ngày 2 tháng Tư năm 2009 về quốc tịch Ba lan, Chương U. 2012 điều 161).


Luật mới có những quy định như – cơ sở được nhận quốc tịch theo quyền, cơ sở và cách thức cấp quốc tịch Ba Lan, và việc thừa nhận là công dân Ba Lan.

Những điều khoản thực thi luật mới là chưa từng có trong luật pháp Ba Lan như việc được phục hồi quốc tịch Ba Lan. Những ai trước đây có quốc tịch Ba Lan đã bị mất quốc tịch trước ngày 01 tháng Một 1999 do các quy định của luật quốc tịch Ba Lan ghi trong bộ luật ngày 01 tháng Một năm 1920 (Chương U. điều 7, mục 44, có thay đổi), luật ngày 8 tháng Một năm 1951 (Chương U. điều 4 mục 25) và luật ngày 15 tháng Hai năm1962, luật (Chương U năm 2000 điều 28, mục 353 với những thay đổi).

Những quy định việc điều chỉnh phục hồi quốc tịch Ba Lan có hiệu lực từ 15 tháng 8 năm 2012. Bao gồm những quy định:

- cơ sở và điều kiện nhận và thôi quốc tịch Ba Lan; 
- cơ sở, điều kiện khẳng định có và thôi quốc tịch  Ba Lan.

Công dân Ba Lan là những người có quốc tịch Ba Lan theo luật có hiệu lực từ ngày 15.08.2012 trên cơ sở.

1. có quốc tịch theo luật pháp;

2. được cấp quốc tịch Ba Lan; 
3. được thừa nhận là công dân Ba Lan; 
4. được phục hồi quốc tịch Ba Lan;

Có quốc tịch theo luật pháp. 

1. Trẻ em có quốc tịch Ba Lan khi sinh trong trường hợp: 

- Ít nhất 1 trong 2 người bố hoặc mẹ là công dân Ba Lan (không tính: nơi sinh, vì thế có thể sinh ra ở ngoài biên giới Ba Lan) 

- Sinh ra trên lãnh thổ Ba Lan, nhưng bố mẹ không tông tích, không có quốc tịch nào, hoặc quốc tịch không được xác định

- Trẻ em được người có quốc tịch Ba Lan (hoặc nhiều người có quốc tịch Ba Lan) nhận nuôi hợp pháp cho đến năm 16 tuổi, trong trường hợp này trẻ em sẽ có quốc tịch Ba Lan kể từ ngày sinh.

Cấp quốc tịch Ba Lan. 

Tổng thống Ba Lan có thể cấp quốc tịch Ba Lan cho người nước ngoài. Người nước ngoài có đơn xin. Trẻ em được cấp quốc tịch khi có đơn của người có đủ tư cách pháp nhân đại diện cho nó. Nếu có bất đồng giữa những người đại diện hợp pháp thì đề nghị toà án sẽ phán xét. Đơn xin cấp quốc tịch gửi qua tỉnh trưởng hoặc lãnh sự có thể trực tiếp hoặc qua bưu điện có chữ ký công chứng (mẫu đơn xin cấp quốc tịch Ba Lan theo quy định của Văn phòng tổng thống Ba Lan) 

Người nước ngoài có quốc tịch Ba Lan kể từ ngày tổng thống Ba Lan ký quyết định cấp quốc tịch Ba Lan. 

Thừa nhận công dân Ba Lan 

Việc thừa nhận là công dân Ba Lan khi có đơn của người nước ngoài, trong trường hợp trẻ em thì có đơn của đại diện hợp pháp. Trong trường hợp không có sự thống nhất của những người đại diện hợp pháp thì đề nghị toà án phán xét. Cụ thể các trường hợp sau:

1. Người nước ngoài ở liên tục trên lãnh thổ Ba Lan ít nhất 3 năm liền trên cơ sở cư trú (osiedlenie się), định cư lâu dài (pobyt rezydenta długoterminowego) theo văn bản của Cộng đồng chung Châu Âu hoặc quyền sống hợp pháp lâu dài, có nguồn thu nhập ổn định, định kỳ và có nơi ở hợp pháp mang tên mình ((tytuł prawny do zajmowania lokalu mieszkalnego);

2. Người nước ngoài ở liên tục trên lãnh thổ Ba Lan ít nhất 2 năm trên cơ sở cư trú, giấy phép ở lâu dài ( osiedlenie się, zezwolenia na pobyt rezydenta długoterminowego) của Cộng đồng chung châu Âu hoặc quyền sống hợp pháp lâu dài (stałego pobytu), khi: 
2.1. là vợ hoặc chồng kết hôn ít nhất 3 năm với công dân Ba Lan hoặc
2.2. không có một quốc tịch nào; 

3. Người nước ở liên tục trên lãnh thổ Ba Lan ít nhất 2 năm trên cơ sở cư trú (osiedlenie się), hoặc do được phép cư trú theo chế độ tỵ nạn của nhà nước Ba Lan

4. Trẻ em, mà một trong đó bố hoặc mẹ là công dân Ba Lan đã ở Ba Lan trên cơ sở cư trú (osiedlenie się), giấy phép ở lâu dài (zezwolenia na pobyt rezydenta długoterminowego) của Cộng đồng chung châu Âu, hoặc quyền sống hợp pháp lâu dài (stałego pobytu), người thứ 2 không có quốc tịch Ba Lan cũng đồng ý việc thừa nhân này

5. Trẻ em, mà một trong bố hoặc mẹ được nhận lại quốc tịch Ba Lan, nếu trẻ em đang ở Ba Lan trên cơ sở giấy phép cư trú (osiedlenie się) hoặc giấy phép ở lâu dài (pobyt rezydenta długoterminowego) của Cộng đồng chung châu Âu, hoặc quyền sống hợp pháp lâu dài (stałego pobytu), còn người thứ 2 không có quốc tịch Ba Lan cũng đồng ý việc thừa nhân này

6. Người nước ngoài ở liên tục, hợp pháp trên lãnh thổ Ba Lan ít nhất 10 năm, thoả mãn các điều kiện dưới đây: 
6.1. có cư trú (osiedlenie się), giấy phép ở lâu dài của Cộng đồng chung châu Âu hoặc quyền sống cố định (stały pobyt) 
6.2.  có nguồn thu nhập ổn định, định kỳ trên lãnh thổ Ba Lan và có chỗ ở hợp pháp mang tên mình (tytuł prawny do zajmowania lokalu mieszkalnego); 

7. Người nước ngoài ở liên tục trên lãnh thổ Ba Lan  ít nhất 2 năm trên cơ sở (osiedlenie się), do liên quan đến gốc là Ba Lan.

Lưu ý: Người nước ngoài làm đơn xin được thừa nhận là công dân Ba Lan – ngoài điều xác định ở mục 4 và 5 – còn yêu cầu phải biết tiếng Ba Lan được các cơ quan xác nhận theo quy định (điều 7.10.1999 chương U. số 90, điểm 999 có thay đổi), có xác nhận tốt nghiệp trường học tại Ba Lan hoặc xác nhận tốt nghiệp ở nước ngoài được giảng dậy bằng ngôn ngữ Ba Lan. Mọi thông tin có thể tham khảo tại http://www.buwiwm.edu.pl/certyfikacja/

Luật mới của Ba Lan xác định nguyên tắc tách rời quốc tịch Ba Lan. Điều này có nghĩa là công dân Ba Lan có quyền có quốc tịch Ba Lan và có quốc tịch của nước khác. Người xin quốc tịch Ba Lan được tự nguyện bỏ quốc tịch của mình.

Đơn xin thừa nhận công dân Ba Lan gửi cho tỉnh trưởng nơi cư trú và tỉnh trưởng sẽ ra quyết định thừa nhận.

Nguồn: Queviet.pl

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo