Biển Đông

COC không là phương tiện hạ cơn khát lãnh thổ Biển Đông

Cập nhật lúc 20-04-2011 14:37:52 (GMT+1)

 

Trong bối cảnh các sự kiện đã và đang diễn ra tại Biển Đông và mối quan tâm của các quốc gia đối với Biển Đông, COC Biển Đông không thể là phương tiện để giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ hay phân định ranh giới biển ở Biển Đông.


>Ngẫm về bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông

Phác thảo sơ bộ cho một COC Biển Đông

Trong thực tiễn quốc tế, thuật ngữ "bộ quy tắc ứng xử" (code of conduct) xuất hiện phổ biến từ những năm 1970 và được dùng cho những văn bản tập hợp các quy tắc, chuẩn mực điều chỉnh cách ứng xử của các quốc gia, thực thể hay cá nhân trong một lĩnh vực hoặc tại một khu vực cụ thể.

Có thể tham khảo một số ví dụ như: dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử liên quan đến các công ty xuyên quốc gia do Liên hợp quốc soạn thảo trong những năm 1990, Bộ Quy tắc ứng xử về đánh cá có trách nhiệm của Tổ chức Lương thực thế giới thông qua năm 1995, Bộ Quy tắc ứng xử của tàu thuyền hoạt động trong Vịnh Sidney năm 2005, Bộ Quy tắc ứng xử về môi trường trong quản lý cảng biển vùng Trung Mỹ do Hiệp hội vận tải biển các nước Trung Mỹ thông qua năm 2007, Bộ Quy tắc ứng xử về trấn áp hoạt động cướp biển và cướp có vũ trang ở Tây Ấn Độ dương và vịnh Aden ký năm 2009.

Những quy tắc, chuẩn mực được các bên cam kết tôn trọng có thể bao gồm những chuẩn mực hiện hành của luật quốc tế, có tính ràng buộc và cả những chuẩn mực mới, mang tính "khuyến khích". Các bộ quy tắc ứng xử không được ký kết như những điều ước quốc tế có giá trị pháp lý ràng buộc theo luật điều ước quốc tế. Chúng được coi như những văn kiện "luật mềm" (soft law), có tính định hướng hành động và khuyến khích các bên tôn trọng trên cơ sở tự nguyện. Sự khác biệt giữa một điều ước quốc tế có giá trị pháp lý ràng buộc với một văn kiện luật mềm có tính "khuyến khích" còn thể hiện ở hệ quả pháp lý đối với hành vi vi phạm.

Cụ thể là việc vi phạm một điều ước quốc tế sẽ dẫn đến trách nhiệm của quốc gia (phải bồi thường hoặc có các hành vi khắc phục tương ứng), trong khi vi phạm một quy định có tính chất khuyến nghị chỉ mang đến hệ quả chính trị, tức là sự chỉ trích, lên án từ các bên khác. Nhưng trong bộ quy tắc ứng xử thường có những quy phạm hành vi liên quan đến chuẩn mực hiện hành của luật pháp quốc tế. Điều đó cho phép các bên đưa vào bộ quy tắc ứng xử quy định về việc khởi động các cơ chế hiện hành của luật quốc tế trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng, Như vậy, bộ quy tắc ứng xử sẽ có tác dụng hữu hiệu hơn.

Mục tiêu và định hướng chung của COC Biển Đông

Trong bối cảnh các sự kiện đã và đang diễn ra tại Biển Đông và mối quan tâm của các quốc gia đối với Biển Đông, COC Biển Đông phải nhằm giải quyết những vấn đề gì và bằng những cơ chế, biện pháp cụ thể nào để có thể phát huy tác dụng, và quan trọng nhất là được sự chấp thuận của các nước hữu quan?

Ảnh minh họa: BBC

COC không thể là phương tiện để giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ hay phân định ranh giới biển ở Biển Đông. Việc giải quyết các tranh chấp nói trên phải được thực hiện bằng thương lượng trực tiếp giữa các bên tranh chấp, hoặc thông qua các cơ quan tài phán quốc tế có thẩm quyền và được các bên tranh chấp thỏa thuận sử dụng. Giống như DOC 2002, COC sẽ tiếp tục là một công cụ xây dựng lòng tin nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định, tin cậy lẫn nhau và khuyến khích hợp tác sử dụng và quản lý Biển Đông một cách hòa bình, tối ưu trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển 1982; các biện pháp thực hiện trong khuôn khổ COC sẽ không gây phương hại đến quá trình giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ và vùng biển. Mặt khác, COC cần kế thừa và phát triển các quy định của DOC 2002, khắc phục những điểm hạn chế đã cản trở việc triển khai DOC trên thực tế nhằm giảm căng thẳng và nguy cơ xung đột trên Biển Đông.

Với mục tiêu như trên, COC không nên dừng lại ở cam kết của các bên thực hiện các nguyên tắc khung, hoặc không tiến hành những hành động không được quy định cụ thể. COC cần phải xác định rõ những hành vi không được phép tiến hành ở Biển Đông vì vi phạm Luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển 1982, các thỏa thuận giữa các bên hữu quan liên quan đến vùng biển này hay do gây ra căng thẳng, bất ổn định trên Biển Đông. COC cũng cần quy định những điều kiện và cơ chế thích hợp cho phép các bên tăng cường đối thoại, giảm thiểu căng thẳng khi tranh chấp, bất đồng nảy sinh, triển khai hợp tác trong những lĩnh vực nhất định, nhất là những biện pháp xây dựng lòng tin.

Với cách tiếp cận như trên, COC cũng cần phải có phạm vi, đối tượng và nội dung phù  hợp, có tính đến những khó khăn, vướng mắc đã nảy sinh khi đàm phán DOC 2002.

Phạm vi áp dụng của COC Biển Đông

Việc gắn phạm vi áp dụng COC vào khu vực tranh chấp thuộc hai quần đảo gây khó khăn cho chính việc soạn thảo và thông qua COC trước năm 2002. Và cũng vì cách đặt vấn đề gắn COC với tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, các nước ASEAN lo ngại việc mở rộng phạm vi áp dụng của COC/DOC sẽ là công nhận mở rộng tranh chấp sang các vùng biển thuộc quyền tài phán của các quốc gia ven biển theo Công ước Luật biển 1982. Quy định về phạm vi áp dụng hạn chế ở các khu vực tranh chấp thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên thực tế xung đột với chính quy định cho phép tiến hành các dự án hợp tác bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, đấu tranh chống tội phạm trên biển, tìm kiếm cứu nạn... ở Biển Đông.

Hơn nữa, tình hình ở Biển Đông sau khi DOC được ký kết cho thấy các sự kiện gây căng thẳng, tranh cãi không chỉ diễn ra ở khu vực hai quần đảo, mà ở nhiều vùng biển khác nhau thuộc biển Đông. Không thể phủ nhận thực tế Trung Quốc, bằng yêu sách phi lý và mập mờ về căn cứ pháp lý lẫn lịch sử, đã mở rộng tranh chấp ra gần như toàn bộ Biển Đông và có những hoạt động cản trở, đe dọa việc sử dụng hòa bình và hợp pháp Biển Đông của các quốc gia khác.

Để thực hiện mục tiêu duy trì hòa bình an ninh và tạo cơ hội cho các quốc gia sử dụng hòa bình và hợp lý các vùng biển ở Biển Đông trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật biển 1982, không có lý gì COC chỉ giới hạn áp dụng đối với khu vực tranh chấp thuộc quần đảo Trường Sa, hay cả quần đảo Hoàng Sa.  Phạm vi áp dụng của COC nên là trên toàn Biển Đông, nhằm điều chỉnh hành vi ứng xử của các bên theo các mục tiêu cụ thể của COC, không ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp về chủ quyền đảo ở Biển Đông.

Mặt khác, việc xác định phạm vi áp dụng COC trên toàn bộ Biển Đông không có nghĩa là thừa nhận mở rộng phạm vi tranh chấp liên quan đến hai quần đảo ra toàn Biển Đông. Trái lại, để triển khai COC, các bên tham gia COC cần thỏa thuận tạm thời "khoanh vùng" các quần đảo bị tranh chấp ở Biển Đông, tách chúng ra khỏi các vùng biển kế cận lãnh thổ chính của các quốc gia ven Biển Đông. Việc khoanh vùng như vậy là cần thiết vì nó cho phép xác định rõ phạm vi không gian áp dụng các quy định của COC về cách ứng xử  của các bên tại các quần đảo bị tranh chấp và  tại các vùng biển khác của Biển Đông.

Thỏa thuận khoanh vùng tạm thời các quần đảo bị tranh chấp ở Biển Đông không phải là giải pháp thay thế thỏa thuận của các quốc gia hữu quan về phân định các vùng biển liên quan đến hai quần đảo bị tranh chấp. Chừng nào vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo chưa được giải quyết, khó có thể nghĩ tới giải pháp phân định các vùng biển liên quan đến hai quần đảo. Vì vậy việc khoanh vùng hai quần đảo để triển khai COC mang ý nghĩa của một giải pháp tạm thời đóng băng tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo và mở đường cho các hoạt động hòa bình và phù hợp với Luật biển quốc tế tại Biển Đông.

Việc khoanh vùng hai quần đảo là một vấn đề mang nhiều tính kỹ thuật nhưng trước hết phụ thuộc vào ý chí của các quốc gia. Cho đến nay cũng đã có nhiều các đề xuất về việc khoanh vùng khu vực tranh chấp ở Biển Đông. Một trong những cách thức đơn giản và thuận tiện cho việc triển khai COC sau này là tạm thời khoanh vùng các vị trí trong hai quần đảo mà các bên tranh chấp đang chiếm đóng và trao cho mỗi vị trí đó một vành đai an toàn có bán kính 500 mét.

Nội dung COC Biển Đông

a) Các nguyên tắc chuẩn mực

COC cần nhắc lại các nguyên tắc khung đã được quy định trong đoạn 1 và 4 của DOC 2002. Ưu tiên cao nhất ở Biển Đông là loại trừ việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để áp đặt các yêu sách hoặc giải quyết tranh chấp về lãnh thổ hay vùng biển. Nguyên tắc không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế là một nguyên tắc quy phạm của luật pháp quốc tế và đã được khẳng định trong rất nhiều văn kiện chính trị, pháp lý của khu vực.

Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác của ASEAN, được nhiều nước ngoài khu vực tham gia, kể cả Trung Quốc, cũng đã quy định cơ chế giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. COC Biển Đông cần xử lý một khía cạnh cụ thể hơn, đó là khi một nước có hành động sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông. Việc bày tỏ ý kiến phản đối tuy rất cần thiết, nhưng rõ ràng là không đủ. Cần có hành động tập thể hoặc sử dụng một cơ chế an ninh tập thể sẵn có để khống chế, chẳng hạn yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc họp xem xét vấn đề. Như vậy COC sẽ phải có quy định cụ thể những hành động nào được coi là hành vi sử dụng vũ lực đến mức đe dọa hòa bình an ninh quốc tế, cần đưa ra Hội đồng Bảo an.

Một nguyên tắc quan trọng nữa cần được nhấn mạnh, đó là mọi hoạt động nghiên cứu, sử dụng, thăm dò, khai thác các vùng biển, kể cả thềm lục địa ở Biển Đông, cũng như giải quyết vấn đề phân định ranh giới vùng biển đều phải tuân thủ quy định của Công ước Luật biển 1982. Trong trường hợp tranh chấp phát sinh, các bên tham gia COC cam kết sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp quy định trong Công ước Luật biển 1982 để giải quyết.

b) Các hành vi không được phép tiến hành

COC cần quy định rõ những hành động các bên cam kết không triển khai ở các khu vực tranh chấp lãnh thổ và các vùng biển của Biển Đông, cơ chế giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm.

Trước hết tại các quần đảo tranh chấp, các bên cam kết không tiến hành chiếm đóng mới (như: đưa người đến ở, hoặc xây dựng cấu trúc mới tại các đá/bãi ngầm chưa nước nào có mặt), không hoạt động khiêu khích quân sự, không tiến hành do thám gián điệp ở các khu vực đồn trú của nước khác. Tại các vùng nước nằm trong phạm vi khoanh vùng tạm thời hai quần đảo, các bên không đơn phương khảo sát, thăm dò, khai thác dầu khí. Đồng thời, cần có quy định cụ thể nhằm loại trừ tác động gây nguy hại đến môi trường sinh thái biển, nhất là hiện trạng đa dạng sinh học ở đây, xuất phát từ các hoạt động của các bên tại các đảo, đá, bãi ngầm mà họ chiếm giữ.

Các lực lượng đồn trú trên quần đảo có nhiệm vụ theo dõi, phát hiện những hành vi thuộc loại vừa nêu và thông báo tới tất cả các bên tham gia COC. Thông báo như vậy là cơ sở để tiến hành các hoạt động ngoại giao song phương hoặc đa phương nhằm vận động bên vi phạm chấm dứt hành động của mình.

Tại các vùng biển khác mọi hoạt động đều phải tiến hành trên cơ sở tuân thủ quy định của Công ước Luật  biển 1982. Các bên không đưa ra những yêu sách về vùng biển phi lý, trái với các tiêu chuẩn của Luật biển quốc tế, và tổ chức cưỡng chế thi hành các luật lệ đơn phương áp đặt trong phạm vi yêu sách phi lý nói trên. Các bên cam kết không cản trở hoạt động đi lại bình thường của tàu thuyền các nước trên các tuyến hàng hải quốc tế đi qua Biển Đông, không đơn phương khảo sát, thăm dò, khai thác dầu khí tại các vùng thềm lục địa chồng lấn căn cứ theo Công ước Luật biển 1982. Đồng thời, cần có quy định nhằm loại trừ các thực tiễn gây nguy hại đến môi trường biển trong khi tiến hành các hoạt động hàng hải hoặc thăm dò khai thác tài nguyên ở Biển Đông.

c) Các hoạt động được khuyến khích thực hiện

COC cần tiếp thu các quy định của DOC 2002 về các biện pháp xây dựng lòng tin trên nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, bao gồm đối thoại, tham khảo, tự nguyện trao đổi thông tin giữa các lực lượng đồn trú tại quần đảo Trường Sa. COC cần quy định cụ thể hơn cơ chế đối thoại, tham khảo định kỳ, hoặc bất thường khi có bất đồng nảy sinh, ở các cấp độ khác nhau, như giữa các đơn vị đồn trú tại quần đảo Trường Sa, giữa các Bộ chức năng tương ứng của các bên, giữa các Chính phủ.

Bên cạnh việc ghi nhận lại các lĩnh vực khuyến khích hợp tác đã có trong DOC 2002, như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an toàn hàng hải và viễn thông, tìm kiếm cứu nạn và chống tội phạm xuyên quốc gia, COC cần quy định những định hướng triển khai hợp tác. Về điểm này, có thể tham khảo các nguyên tắc chỉ đạo việc triển khai các dự án hợp tác trong khuôn khổ DOC 2002 mà Trung Quốc và ASEAN thỏa thuận được sau khi thông qua DOC.

4. Chủ thể và đối tượng thực hiện COC Biển Đông

DOC 2002 do 10 nước ASEAN và Trung Quốc soạn thảo, ký kết và thực hiện. Mặc dù DOC được hiểu là chỉ áp dụng đối với khu vực tranh chấp ở Biển Đông, điều đó không cản trở các nước ASEAN không phải là bên tranh chấp trực tiếp tham gia xây dựng và thực hiện DOC. Hơn nữa, như đã trình bày ở trên việc duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông cũng như bảo đảm an ninh hàng hải qua vùng biển này có ý nghĩa to lớn với cả các quốc gia bên ngoài khu vực. Vì thế, trong tương lai cũng cần tính đến khả năng mở cho các quốc gia bên ngoài khu vực đang hoặc có nguyện vọng sử dụng Biển Đông tham gia COC Biển Đông.

Với tư cách là một văn kiện tiếp nối DOC, về nguyên tắc COC Biển Đông cần được đàm phán trực tiếp giữa các nước ASEAN và Trung Quốc. Tuy nhiên, việc Trung Quốc và các nước ASEAN đóng vai trò nòng cốt trong khâu soạn thảo COC không có nghĩa là phủ định sự trợ giúp, tư vấn của các nước khác, hoặc các tổ chức chuyên môn quốc tế hoặc khu vực.

Trong quá trình đàm phán xây dựng COC, các nước ASEAN, với những điểm tương đồng về lợi ích và năng lực triển khai các chính sách ở Biển Đông, có cơ hội thống nhất quan điểm về nội dung văn kiện COC cũng như phương thức đàm phán để đạt kết quả mong muốn. Điều này phần nào đã được kiểm chứng trong quá trình thương lượng DOC 2002.  Các nước ASEAN cần tiếp tục phát huy ưu thế này.

Trong trường hợp Trung Quốc cảm thấy còn "vướng mắc" với việc ký kết thêm một văn kiện nữa về Biển Đông, ASEAN hoàn toàn có thể đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng và thông qua COC. Văn kiện này trước hết sẽ được ký kết giữa các nước ASEAN với nhau và để mở cho các nước khác, cả bên trong lẫn bên ngoài khu vực, tham gia. Việc đàm phán và ký kết một văn kiện như vậy có cơ sở cả về lý luận lẫn thực tế. Thứ nhất, một văn kiện của ASEAN để điều chỉnh một vùng biển tiếp giáp với tám trong mười nước ASEAN và để kiềm chế xung đột nảy sinh từ một tranh chấp có liên quan đến bốn nước ASEAN hoàn toàn phù hợp với mục tiêu thúc đẩy hòa bình và ổn định trong khu vực.

Thứ hai, COC không phải là một văn kiện giải quyết tranh chấp về chủ quyền, mà là một văn kiện đề ra các chuẩn mực hành xử, chủ yếu là hạn chế hơn là trao thêm quyền, cho các nước có lợi ích ở Biển Đông. Một văn kiện như vậy nếu chỉ ký giữa các nước ASEAN với nhau không hề gây phương hại gì đến lợi ích của Trung Quốc với tư cách là một bên tranh chấp không tham gia; hơn nữa, Trung Quốc luôn được hoan nghênh tham gia COC.

Cuối cùng, cách làm này có cơ sở thực tiễn là Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác - một văn kiện pháp lý có mục tiêu thúc đẩy hòa bình và ổn định trong khu vực- ban đầu được ký kết giữa các nước ASEAN, sau được mở cho các nước bên ngoài khu vực tham gia, trong đó có cả Trung Quốc.

Ngoài ra, một thực tế không thể phủ nhận được đó là Đài Loan có tham gia vào tranh chấp ở Biển Đông và đang chiếm giữ vị trí đảo lớn nhất tại Trường Sa. Việc Đài Loan tham gia thực hiện COC hay các biện pháp triển khai COC, mà không nhất thiết tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, là một khả năng cần được xem xét nghiêm túc. Việc này hoàn toàn không đi ngược lại chính sách một Trung Quốc và căn cứ thực tiễn Đài Loan tham gia với tư cách "thực thể đánh cá", "lãnh thổ thuế quan riêng biệt" vào các tổ chức nghề cá khu vực hay Tổ chức thương mại thế giới nơi Trung Quốc là "quốc gia thành viên".

Tóm lại: Những gợi ý về mô hình của một COC Biển Đông ở trên được hình thành từ góc độ tìm kiếm phương thức không để các tranh chấp về lãnh thổ và vùng biển ở Biển Đông đe dọa hòa bình, an ninh khu vực và cản trở các hoạt động sử dụng vùng biển một cách hòa bình, hợp pháp, phù hợp với Công ước Luật biển 1982. Để đạt được mục đích vừa nêu, COC Biển Đông không chỉ điều chỉnh hành vi ứng xử của các bên trực tiếp liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ, vùng biển ở Biển Đông, mà phải điều chỉnh hành vi ứng xử của tất cả các bên tham gia sử dụng vùng biển này.

Và do đó, nó không thể chỉ là mối quan tâm riêng của các nước ven Biển Đông, mặc dù các nước này có lợi ích sát sườn nhất trong việc duy trì hòa bình, an ninh và khả năng khai thác Biển Đông phục vụ phát triển kinh tế. Các nước ASEAN đã đạt được thỏa thuận ở cấp cao nhất về việc soạn thảo và thông qua COC. Một số cường quốc, như Trung Quốc, Mỹ,... đã bày tỏ ý kiến ủng hộ. Vai trò tích cực, chủ động của các nước ASEAN sẽ nhân tố thúc đẩy tiến bộ của quá trình này.

Tài liệu tham khảo:

Các văn kiện của ASEAN tại http://www.aseansec.org (trang mạng của Ban thư ký ASEAN)

FAO, The State of World Fisheries and Aquaculture 2008 (Rome: Food and Agriculture Organization of the United Nations 2009)

Sam Bateman and Ralf Emmers (eds.), Security and International Politics in the South China Sea: Towards a Co-operative Management Regime (London: Routledge 2009)

Jürgen Friedrich, "Codes of Conduct" trong in R Wolfrum (ed) Max Planck Encyclopedia of Public International Law (Oxford University Press, Online Edition)

Timo Kivimäki (ed.), War or peace in the South China Sea? (Copenhagen: NIAS Press 2002)

Nien-Tsu Alfred Hu (ed), "Special Issue: The Concept of Fishing Entities in International Law: A Decade of Practice" Ocean Development & International Law 37 (2006): 113-83

Nguyen Hong Thao, "Vietnam and the Code of Conduct for the South China Sea" Ocean Development & International Law 32 (2001): 105-130

Nguyen Hong Thao, "The 2002 Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea: A Note" Ocean Development & International Law 34 (2003): 279-285

Clive Schofield, and Ian Storey "The South China Sea Dispute: Increasing Stakes and Rising Tensions" The Jamestown Foundation Occasional Paper, November 2009 (Washington, DC: The Jamestown Foundation)

Wu Shicun and Ren Huaifeng, "More than a Declaration: A Commentary on the Background and the Significance of the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea" Chinese Journal of International Law 3 (2003): 311-19.


[1] Chẳng hạn United States Energy Information Administration dự đoán trữ lượng dầu khí ở khu vực này quần đảo Trường Sa là 7 tỷ thùng trong khí đó các cơ quan nghiên cứu của Trung Quốc dự đoán trữ lượng lên đén 105-213 tỷ thùng. Lý do của sự khác biệt này có thể là do xu hướng các nhà đầu tư luôn muốn làm giảm giá trị khu vực mình định đầu tư trong khi các quốc gia luôn nâng cao tiềm năng của khu vực được kêu gọi đầu tư.

[2] Tổng giá trị xuất khẩu của mười quốc gia và vùng lãnh bao quanh Biển Đông (Đài Loan được tính riêng khỏi Trung Quốc) năm 2008 là 27 469 250 ngàn USD cho 7 881 650 tấn hải sản.

[3] Cụ thể trong trường hợp quần đảo Trường Sa, vấn đề phân định có thể nảy sinh trong các tình huống sau. Một là phân định giữa vùng biển của các đảo trong quần đảo này và vùng biển của các quốc gia ven biển. Hai là trong trường hợp các đảo trong quần đảo Trường Sa không thuộc chủ quyền một nước, sẽ có thể nảy sinh vấn đề phân định ngay giữa các đảo này với nhau. Trong cả hai trường hợp này, số lượng các vùng chồng lấn tạo bởi các đảo trong quần đảo Trường Sa còn phụ thuộc vào việc xác định quy chế pháp lý của chính các đảo này, cụ thể là các đảo này có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa hay không.

[4] Tháng 01/2011 vừa qua Trung Quốc tiếp tục thể hiện yêu sách này trên bản đồ điện tử trực tuyến Map World do Cục Đo đạc Bản đồ quốc gia Trung Quốc quản lý.

[5] Việt Nam và In-đô-nê-xi-a đã chính thức công hàm phản đối và bác bỏ đường yêu sách chín đoạn của Trung Quốc.

[6][6] Cụ thể là Trung Quốc gây sức ép dẫn đến việc BP rút khỏi một số các dự án thăm dò khai thác trên thềm lục địa của Việt Nam năm 2009.

[7] Gần đây nhất là sự kiện vào đầu tháng 03/2011 khi tàu tuần tra của của Trung Quốc cản phá hoạt động của tàu thăm dò của Phi-líp-pin tại Bãi Cỏ Rong dẫn đến việc hải quân Phi-líp-pin phải điều máy bay chiến đầu ra hộ tống tàu thăm dò của Phi-líp-pin.

[8] Xem Joint Communique of The 29th ASEAN Ministerial Meeting (AMM), Jakarta, 20-21 July 1996, đoạn 11.

[9] Văn bản có tại http://www.aseansec.org/5476.htm .

[10] Văn bản có trong Nguyen Hong Thao, "Vietnam and the Code of Conduct for the South China Sea" Ocean Development and International Law 32 (2001): 105-130, Appendix 4, 127-29.

[11]Văn bản có tại http://www.aseansec.org/13163.htm.

[12] Wu Shicun and Ren Huaifeng, "More than a Declaration: A Commentary on the Background and the Significance of the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea" Chinese Journal of International Law 3 (2003): 311-19, 313.

Thanh Hà

Nguồn Tuanvietnam

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo