Biển Đông

Về một số tư liệu thư tịch cổ Trung Quốc liên quan đến Biển Đông nước ta

Cập nhật lúc 20-04-2011 18:07:42 (GMT+1)
Ảnh minh họa- Nguồn: Xaluan

 

Trong những năm qua, Ban Biên giới của Chính phủ (nay là Bộ ngoại giao) đã chú trọng và thực hiện việc sưu tầm được nhiều sách cùng bản đồ của Trung Quốc ở trong và ngoài nước). Hàng trăm cuốn sách và bản đồ đã được dịch sang tiếng Việt. Trong số các tài liệu cổ Trung Quốc liên quan đến Biển Đông mà ta đã sưu tầm được gồm các loại sách địa lý, lịch sử, sách về phòng thủ biển, hàng hải và bản đồ.


Các loại sách này được viết dưới nhiều triều đại khác nhau nhưng nhiều nhất vẫn là những tư liệu từ đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu sơ lược hệ thống của Trung Quốc có liên quan đến Biển Đông và có một vài nhận xét khái quát. Chúng tôi tạm chia các nguồn tư liệu theo các phần mục riêng chỉ mang tính tương đối vì các nguồn thư tịch cổ Hoằng tổng hợp trong khối Văn - Sử trích bất phân. Một số sách có quy mô lớn, biên soạn trong thời gian dài qua nhiều thế kỷ, qua mấy triều đại nên cuốn sách đó sẽ mang dấu ấn của nhiều triều đại. Tư liệu chúng tôi tập trung giới thiệu là những tư liệu do nhà nước Trung Quốc biên soạn, vì những tư liệu này nó mang tính chính thống và quan phương hơn cả.

I. SÁCH LỊCH SỬ

Trong suốt quá trình các triều dại từ Hán, Đường, Tống , Nguyên, Minh, Thanh đều để lại các tác phẩm tiêu biểu như: sử nhà Tiền Hán có Tiền Hán Thư (Thư viện KHXH, ký hiệu (KH) 7286) ghi lịch sử nhà Tiền Hán (206 TCN - 25) do Ban Cố (32 - 92 CN) đời Đông Hán (25 - 220) soạn vào những năm Kiến Sơ (76 - 83) đời Chương Đế (76 - 88).

- Đường Thư (TVQG - (KH 13220) ghi lại lịch sử nhà Đường (608 - 907) do Âu Dương Tu (1007 - 1072) đời Tống soạn vào những năm 1054 - 1060.

- Tống sử (TVQG, KH 13208) ghi lại lịch sử nhà Tống (960 - 1297) do Togtoha làm quan đại thần đời Nguyên soạn vào năm Chi Chính 3 (1343)

- Nguyên sử (TVQG, KH 13.120) ghi lại lịch sử nhà Nguyên (1206 - 1368) do Tống Liêm (1310 - 1381) làm quan Hàn Lâm năm Hồng Vũ 2 (1369) theo chỉ dụ của vua Minh.

- Minh sử (TVQG, KH 13209) người soạn là Trương Đình Ngụ giữ chức Thái Tử Thái Bảo, Bảo Hòa Điện, Đại học sĩ kiêm Thượng tư Bộ Lại. Sách hoàn thành vào năm Càn Long 4 (1739) và đã được vua Thanh “ngự lãm” (duyệt).

- Đời Thanh có Khâm định Đại Thanh hội điển đồ.

Đây là bộ sách đồ họa ghi về các lĩnh vực lễ nhạc, trièu phục, võ bị, địa lý, thiên văn,… gồm 270 quyển. Bộ sách kèm theo các từ tâu và Châu phê của vua trong các năm Quang Tự 20 (894), 23 (1897), 24 (1898), 25 (1899).

Về nội dung những chi tiết về biển Đông cần lưu ý:

Sách Tiền Hán thư chép về những sinh hoạt của người Lê trên đải Hải Nam và mô tả sự quật cường chống lại ách đô hộ của nhà Hán buộc nhà Hán phải rời bỏ đảo này. Đường thư ghi lại sự kiện viên Lĩnh Nam tiết độ sứ Lý Phục lấy lại Quỳnh Châu (tức Đảo Hải Nam) làm 3 châu (Quyển 7, tờ 71). Tống sử ghi lại 4 đơn vị hành chính cấp châu và quận gồm Quỳnh Châu, Nam Ninh, Vạn An quân, Cát Dương quân thuộc Quỳnh Châu, Tĩnh Hải quân. Trong “Nguyên sử” có ghi lại: Việc quan trắc thiên văn của Quách Thủ Kính năm 1279 (quyển 164 tờ 4b - 7a) và cuộc xâm lược Ja - Va của Sử Bật vào năm 1293 (quyển 162 tờ 7a - 7b). Minh sử , chương Địa lý chép về phủ Quỳnh Châu (quyển 45 tờ 9b - 10a) và 7 lần đi sứ sang Tây Dương của Trịnh Hoà vào các năm Vĩnh Lạc 3 (1405), thứ 6 (1408) thứ 10 (1412), thứ 14 (1416), thứ 19 (1421), thứ 22 (1424) và không chép chuyến đi cuối cùng (xem quyển 6, 7, 8) phần Liệt truyện chép chuyến đi cuối cùng vào năm Tuyên Đức 5 (1430). Theo tài liệu trên, thì Trịnh Hòa xuất phát từ Nam Kinh theo sông Trường Giang ra biển men theo bờ biển các tỉnh Giang Tô, Phúc Kiến, Quảng Đông, qua phía Đông đảo Hải Nam, sang bờ biển Chiêm Thành, qua Ngoại La Sơn (cù Lao Ré) qua Côn Lôn (Côn Đảo) tiếp đó chia các ngả đi Thái Lan, Ja Va, và đi qua eo biển BaLácCa sang Ấn Độ Dương.

Khâm Định Đại Thanh hội điển đồ phần Dư địa vẽ theo Nội phủ đồ - bản đồ được vẽ dưới các thời Khang Hy, Càn Long (thời Thanh). Bởi theo phần phàm lệ Hoàng dư toàn đồ cho biết điều đó. Căn cứ vào Hoàng dư toàn đồ thì giới hạn cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc không vượt quá đảo Hải Nam. Qua các sách lịch sử được biên soạn dưới triều Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh cho biết giới hạn tận cùng của lãnh thổ Trung Quốc không quá Đảo Hải Nam. Điều đó cho thấy cho đến cuối đời Thanh các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa chưa bao giờ được coi là lãnh thổ Trung Quốc.

II. SÁCH ĐỊA LÝ

Địa lý Trung Quốc không chỉ được ghi chép trong các mục Dư địa Địa lý ở các bộ chính sử mà còn được biên soạn riêng khá bề thế như: thời Tấn có Quảng Châu ký do Bùi Uyên đời Tấn (265 - 420) soạn chép về địa lý vùng Quảng Đông Quảng Tây. Ngày nay, sách này không còn nhưng có thể tìm thấy trong Thái Bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống. Thời Tống có Nguyên Phong Cửu vực chí (Đông Dương văn khố Tokyo, KH II- 11- A- 11) do Quốc sử viện nhà Tống biên soạn gồm 10 quyển, thể hiện rõ đơn vị hành chính và phạm vi địa giới các đơn vị hành chính Trung Quốc đời Tống (960 - 1279). Nổi tiếng là sách Thái Bình hoàn vũ ký do Nhạc Sử biên soạn khoảng niên hiệu Thái Bình Hưng quốc (976 - 997) dưới thời Tống Thái Tông đã được vua Tống ngự lãm (duyệt). Sách gồm 200 quyển được in năm Quang Tự thứ 8 đời Thanh (1882). Dự địa kỷ thắng (Viện TTKHXH - KH 225) do Vương Tượng Chi soạn năm Gia Định thứ 14 (1221) gồm 200 quyển.

Thời Nguyên, sách địa lý biên soạn chủ yếu dựa vào tư liệu thời Tống, đáng kể nhất là Đại Nguyên nhất thống chí (Đông Dương văn hóa nghiên cứu sở - Đại học Tokyo, ký hiệu tổng chí 21). Bộ sách được biên soạn 10 năm từ năm Chí Nguyên 22 (1285) đến năm thứ 31 (1294) do các quan chức triều Nguyên biên soạn dựa vào ba cuốn sách triều Tống (Thái bình hoàn vũ ký, Dư địa kỷ thắng và Nguyên Hòa quận huyện chí). Sách được bổ sung vào các năm Đại Đức thứ 7 (1303) gần 1300 quyển.

Sang thời Minh và thời Thanh, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan mang lại, đặc biệt là sự giao lưu giữa Trung Quốc và các nước phương Tây, khiến cho học phong của Trung Quốc phát triển mạnh mẽ. Các khuynh hướng khải chứng, thực học, kinh học, đạo học, nhiều sách vở lịch sử, địa lý của nhà nước và các địa phương được biên soạn với quy mô lớn. Thời Minh có Thiên hạ nhất thống chí còn có tên là Đại Minh nhất thống chí (Viện TTKHXH, KH 247/1/…17) do Viện Hàn lâm soạn, người đứng đầu là Lý Hiền - Thượng Thư bộ lại kiêm Hàn Lâm viện học sỹ làm tổng tài và 53 vị quan khác. Bộ sách này được biên soạn theo lệnh của vua Thái Tông (1399 - 1402) và hoàn thành vào năm Thiên Thuận thứ 5 (1461) đời Anh Tông (1457 - 1464) gồm 90 quyển. Ngoài cuốn sách trên, bộ sách địa lý Địa đồ tống yếu (KH Đông Dương văn Khố Tokyo, II- 1- A- 73) gồm bản đồ kèm theo lời chúa giải kỹ càng do Ngô Hạ Nghiên, Chu Quốc Hàn, Chu Quốc Đạt soạn năm Sùng Trinh 16 (1643).

Sách Thiên hạ quận quốc kợi bệnh thư (Viện TTKHXH - ký hiệu 248) của học giả nổi tiếng Cố Viêm Vũ (1613 - 1683) được thực hiệntừ năm 1639 đến năm 1662 thì hoàn thành. Sách gồm 120 quyển, chia theo từng tỉnh, phần đầu có “tổng luận” và phần cuối chép việc buôn bán giữa Trung Quốc và nước ngoài.

Thời Thanh sách địa lý khá nhiều, đáng kể nhát là Đại Thanh nhất thống chí (TVQG, KH 12197) được biên soạn theo lệnh của vua Khang Hy (1662 - 1722) hoàn thành vào năm Càn Long 8 (1743) di Quốc sử Quán nhà Thanh thực hiện. Sách này được hoàn thiện và bổ sung vào các năm Càn Long 49 (1784), Gia Khánh 16 (1811), Đạo Quang 22 (1842) và có lời đề tựa của vua Đạo Quang ngày 22 - 12 năm thứ 22 (1842). Đây là một cuốn sách biên soạn trong khaỏgn 1 thế kỷ gồm 560 quyển. Cuốn sách đứng sau về qui mô so với đại Thanh nhất thống chí là sách Độc sử phương dư kỷ yếu (Viện TTKHXH, KH 1833) của Cố Tổ Vũ (1631 - 1692) biên soạn vào năm 1678; sách gồm 130 quyển (trong đó 9 quyển viết về cương vực các triều đại, 114 quyển viết về 13 tỉnh, 6 quyển viết về địa hình đặc thù, 1 quyển viết về thiên văn); sách được Trung Hoa thư cục in lại năm 1955.

Sang hời Thanh, sách địa lý địa phương được biên soạn nhiều như huyện chí, tỉnh chí. Các tỉnh (Trung Quốc) gần lãnh thổ và hải phận nước ta hơn cả là Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến. Tỉnh Quảng Đông có Quảng Đông thông chí (Viện TTKHXH, KH 269) biên soạn năm (1731) do Tổng đốc Quảng Đông Hách Ngụ Lâm làm Tổng tài. Sách gồm 64 quyển đề nhập đến cương vực, hình thắng, hải phòng, núi sông… Tuyền châu phủ chí (Đông Dương văn hóa nghiên cứu sở - Đại học Tokyo, ký hiệu 241…245) soạn giả là Hoàng Nhiệm, Quách Oanh Vũ, khắc năm 1870, viết về phủ Tuyền Châu (thuộc tỉnh Phúc Kiến).

Tư liệu địa lý về Đảo Hải Nam phải kể đến Quỳnh Châu phủ chí Vạn Châu chí. Quỳnh Châu Phủ chí (viện tài liệu TTKHXH, KH 1221) ghi về địa lý phủ Quỳnh Châu (thuộc đảo Hải Nam) do Minh Nghi, Tri phủ Quỳnh Châu soạn năm Tân Sửu, niên hiệu Đạo Quang (1841). Sách gồm 44 quyển đề cập đến bản đồ, sự thay đổi địa giới, cương vực, phòng thủ biển. Sách Vạn Châu Chí (Đông Dương vưn khố - Tokyo, II- 11B- Q- 111) di Hồ Đoan Thư soạn vào năm Đạo Quang 18 (1828).

Nội dung liên quan đến biển Đông: Các tài liệu địa lý Trung Quốc như Quảng Châu ký của Bùi Uyên cho rằng: “Bãi san hô ở phía Nam huyện 500 dặm, xưa có người đánh cá ven biển bắt đơựơc san hô”. Nguyên phong cửu vực chí quyển 9 chép về Lộ Tây Quảng Nam trong đó có 4 đơn vị hành chính của đảo Hải Nam bao gồm Quỳnh Châu, Xương Hoá quận, Vạn An quận, Chu Nhai quận. Dư địa kỷ thắng cũng ghi lại đơn vị hành chính của Hải Nam thành 4 đơn vị là Quỳnh Châu, Xương Hóa quận, Cát Dương quận, Vạn An quận. Quỳnh Châu chia làm 5 huyện: Quỳnh Sơn, Trừng Mai, Văn Xương, Lâm Cao và Lạc Hội. Các sách thời Minh như: Thiên hạ nhất thống chí. Phần về phủ Quỳnh Châu (Đảo Hải Nam) chỉ chép về hành chính, hình thắng, núi sông cả Hải Nam. Đại Thanh nhất thống chí không thấy chép Trường Sa, Thạch Đường hay Vạn Lý Trường sa, Vạn lý thạch đường. Điều đó chứng tỏ, trong các bộ sách địa lý quốc gia quan trọng được vua ngự lãm, phê duyệt dưới các triều đại Trung Quốc được biên soạn hết sức công phu, là văn kiện chính thức của nhà nước thể hiện rõ giới hạn, phạm vi lãnh thổ quốc gia Trung Quốc thời nào cũng không quá đảo Hải Nam.

III. BẢN ĐỒ CỔ

Trung Quốc là nước có truyền thống biên soạn bản đồ. Thời Xuân Thu, Chiến Quốc, Trung Quốc chia làm nhiều nước nhỏ, các nước này đều có bản đồ của ểiền mình. Kể từ khi Tần Thủy Hoàng thống nhất đất nước về sau, các triều đại đều có bản đồ riêng, nhưng bản đồ ở đây là những bản đồ hành chính thể hiện cương giới lãnh thổ Trung Quốc. Bản đồ chia làm hai loại bản đồ khắc vào đá và bản đồ đo vẽ làm thành sách.

- Bản đồ khắc đá.

Thời Tống có Hoa Di đồ (bản đồ Trung Quốc và các nước xung quanh) (khuyết danh) được khắc đá năm Xương Phù 7 (1137) hiện lưu giữ ở bảo tàng Tây An. Trên bản đồ này giới hạn phía Bắc Trung Quốc là Vạn Lý Trường Thành, phía Nam là đảo Hải Nam, phía Đông là biển, phía Tây là đầu nguồn sông Hoàng Hà.

- Địa lý đồ vẽ khoảng 1189 - 1190, tác giả là Hoàng Thường, khắc đá năm 1247 được lưu giữ tại phủ học Tô Châu. Hình thể Trung Quốc của bản này tương tự như Hoa Di đồ Vũ tích đồ (bản đồ của Giả Thẩm ?). Giới hạn cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam. Tập bản đồ của Thuế An Lễ soạn vào đời Tống có lời tựa của Tô Thức được coi là Tập đại hành về bản đồ Trung Quốc thời thượng cổ đến đời Tống. Trong đó, điểm cực Nam trên bản đố Trung Quốc thời Tống chỉ vẽ đảo Hải Nam.

Thời Minh có Quảng Dư đồ (Đông Dương văn khố - Đại học Tokyo, XI- 3Ab- 98) của La Hồng Tiên được in năm 1561. Nhưng thực chất đây là bản đồ của Chu Tư Bản (1273 - 1333) đời Nguyên (1206 - 1386) khắc vào đá trong những năm 1311 - 1320 ở Tam Hoa Viện (Thượng Thanh). Bản đồ Trung Quốc kích thước 7x7 thước = 2,3x2,3m. Chính bản đồ này đã được La Hồng Tiên vẽ thu nhỏ lại mang tên Quảng Dư đồ gồm 1 bức bản đồ toàn quốc mang tên Dư địa tổng đồ và bản đồ 13 đơn vị hành chính cấp tỉnh thời Minh (quyển 1) và ông còn vẽ bản đồ các nước láng giềng (quyển 2). Bản đồ của La Hồng Tiên còn xuất hiện trong các sưu tập Đồ thủ biển (1577), Đông Tây Dương khảo (1608), Vũ Bị Chí (1621), Địa đồ tổng yếu (1642), Độc sử phương dư kỷ yếu (1678), Phương dư loại toản (1808), Dương phòng tập yếu (1838)…

Sang thời Minh, tập Hoàng Minh chức phương địa đồ do Trần Tổ Phụ soạn năm Sùng Trinh 8 (1635) gồm 3 quyển đề cập đến 13 tỉnh. Bản đồ toàn quốc của tập này mang tên Hoàng Minh đại thống nhất tổng đồ (Đông Dương văn khố nghiên cứu sở - Đại học Tokyo, KH 149021).

Cả hai tập bản đồ của Chu Tư Bản thời Nguyên được La Hồng Tiên vẽ lại vào thời Minh. Tạp bản đồ của Trần Tổ Phụ giới hạn cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là Đảo Hải Nam. Cũng như bảng sách lịch sử, địa lý đến triều Thanh, bản đồ cũng được biên soạn đo vẽ nhiều hơn, bên cạnh các tập bản đồ quốc gia còn có các tập bản đồ địa phương.

Đầu triều Thanh có Hoàng dư toàn đồ (Đông Dương văn hóa nghiên cứu sở - Đại học Tokyo, đại đồ 47) là tập bản đồ được đo vẽ theo chỉ dụ của vua Khang Hy (1662 - 1722) trong thời gian 10 năm 1708 - 1718. Để hoàn thành việc đo đạc trên phạm vi toàn quốc, bản đồ này ra đời với sự giúp đỡ trực tiếp của các giáo sĩ phương Tây. Cho đến năm 1761, dưới thời vua Càn Long (1736 - 1795) khu vực Tân Cương được bổ sung hoàn tất gồm 103 tấm, tỷ lệ 1/1.400.000 được in đúc thành tấm và in lưu trong cung cấm, in làm 100 bộ. Như vậy Hoàng dư toàn đồ là tập hợp bản đồ biên soạn mang tính quan phương chính thống lại được sự giúp đỡ về kỹ thuật đo vẽ và bổ sung trong thời gian dài. Chính vì thế, đây là tập bản đồ tin cậy và ấn hành công khai vào các năm 1932, 1966.

Nghiên cứu trên tập bản đồ này, giới hạn cực Nam của bản đồ ở vĩ tuyến 180 (chứng minh lãnh thổ Trung Quốc không vượt quá đảo Hải Nam, các đảo Nam Trung Hoa thuộc ngoài lãnh thổ Trung Quốc).

Đại thanh trực tỉnh toàn đồ (Viện TTKHXH, KH 1586) (khuyết danh) khắc in năm Đồng Trị 2 (1862); Hoàng Triều nhất thống toàn đồ (Viện TTKHXH, KH 250) di Ai Nải Hiên soạn năm quang Tự 20 (1894); Đại Thanh nhất thống dư đồ (Đông Dương văn khố - Tokyo - KH II- 11- 1- 43) do Nghiêm Thụ Sâm vẽ, khắc in năm Đồng trị 2 (1862); Hoàng triều trực tỉnh đồ ((Đông Dương văn khố - Tokyo - KH M41) xuất bản tại Thượng Hải năm 1905, tái bản 1910; Đại Thanh đế quốc tàin đồ (Viện TTKHXH, G38) do thương vụ ấn thư quán Thượng Hải biên tập, xuất bản lần đầu năm Quang Tự 31 (1905) và cho đến 1910 nó được tái bản 4 lần. Về bản đồ địa phương đáng chú ý có Quảng Đông dư địa toàn đồ (Viện TTKHXH, G29) do Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tấn đề tựa năm Quang Tự 23 (1897), người soạn là các quan chức tỉnh Quảng Đông. Các tập bản đồ trên đều được biên soạn trên cơ sở tập “Hoàng dư toàn đồ” trong khoảng 1708 - 1718. Điều đó chứng tỏ trong ý chí, nhận thức của các triều đại Trung Hoa cho đến tận đầu thế kỷ XX, phạm vi lãnh thổ Trung Quốc chỉ đến đảo hải Nam và khồng bao gồm bất kỳ đảo nào trong biển nam Trung hoa.

. Các sách viết về nước ngoài và hàng hải

Các triều đại phong kiến, Trung Quốc tự cho mình là “Thiên triều”, gọi các nước ngoài Trung Quốc là Phiên, Di… nên nhiều sách gắn liền với các lời như: Ngoại di, Lĩnh ngoại, Chư phiên… Nhiều đoạn văn ghi về nước ngoài đã xuất hiện trong Tiền Hán Thư, Hậu Hán Thư, Thủy kinh chí, Đường Thư… Nhưng biên soạn sách nước ngoài thành hệ thống và quy mô thì phải kể đến những tác phẩm được biên soạn từ thời Tống về sau. Xin thống kê một số tác phẩm tiêu biểu:

- Nam Châu Dị vật chí - Thái Bình ngự lãm (Viện TTKHXH, KH 497/123) ghi chép về những vật lạ ở phía Nam (Trung Quốc).

- Ngoài ra Nam Châu dị vật chí có tên là Di vật chí đề tên tác giả Dương Phù - đời Hán.

- Nam Phương dị vật chí (Viện TTKHXH, KH 497) không rõ tên tác giả, niên đại tìm thấy trong Thái Bình ngự lãm của Lý Phỏng biên soạn trong khoảng (976 - 983) đời Tống.

- Phù Nam truyện (Viện TTKHXH, KH 497) tác giả là Khang Thái, sứ thần nước Ngô (222 - 280) sách này không còn, nay tìm thấy trong Thái Bình ngự lãm của Lý Phỏng đời Tống.

* Các tác phẩm viết về nước ngoài biên soạn từ thời Tống về sau như: Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi, viết năm Mậu Tuất niên hiệu Thuần Hy (1178), sách gồm 10 quyển.

- Mộng Lương Lục: trong Học hải loại biên, (Viện TTKHXH, KH P514/41 - 42) do Ngô Tự Mục soạn năm Giáp Tuất (1274) gồm 20 quyển.

- Chư phiên chí (Viện TTKHXH, KH 1212) do Triệu Nhữ Quát đời Tống soạn đầu niên hiệu Bảo Khánh 2 (1225).

- Đảo Di chí lược (Viện TTKHXH, KH 1591) của Uông Đại Uyên đời Nguyên soạn, có bài tựa của Ngô Giám đề năm Chí Chính 9 (1349).

- Đông Nam Hải di đồ trong Dương phòng tập yếu, (Viện TTKHXH, KH 1847), là tác phẩm xuất hiện lần đầu trong tác phẩm Quảng dư đồ của La Hồng Tiến (1554 - 1557).

- Hải Quốc Văn kiến lục (Viện TTKHXH, P 268/8) của Trần Luận Quýnh, soạn năm 1730 gồm 2 quyển. Thuận phong tương tốngChỉ nam chính pháp (khuyết danh) niên đại khoảng thế kỷ VIII được in gộp trong Lưỡng Chủng hải đạo châm kinh (bản này sao lại từ bản lưu ở thư viện Bodllian, đại học Ngưu Tân nước Anh, in lại năm 1961).

Đông Dương các quốc duyên cách đồ (Viện TTKHXH, KH 2443) là bản đồ các nước khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á, là một trong những bản đồ trong Hải Quốc văn kiến lục của Trần Luân Quýnh (1730), Hoàng hải tổng đồ trong sách Hoàng triều dư địa lược (Thư viện Đại học Kyoto, Nhật Bản, KH XI- 1- 49) in năm Đạo Quang (1834).

* Sách về phòng vệ biển:

Do nhu cầu chống lại nạn cướp biển, chủ yếu từ Nhật bản nên Trung Quốc đã biên soạn một số tác phẩm về kế hoạch, chiến lược phòng vệ biển như: Vũ kinh tổng yếu (Viện TTKHXH, KH. P1121) của Tăng Công Lượng và Đinh Bộ, có lời tựa của vua Tống Nhân Tông (1023 - 1063), sách này được in trong Tứ khố toàn thư (1781). Thời Minh có Trù hải đồ biên của Trịnh Nhược Tăng và Hồ Tông Hiến soạn năm 1052. Vạn lý hải phòng đồ luận (Đông Dương văn khố Tokyo, KH. II- 50- 1- 53) của Trịnh Nhược Tăng. Dương phòng tập yếu (Viện TTKHXH, KH. 1847) của Nghiêm Như Dục soạn năm Đao Quang 18 (1838).

Sách về phòng vệ biển của tỉnh Quảng Đông có Quảng Đông hải phòng vựng lãm do Lư Khôn, Đặng Đình Trinh, Kỳ cống, Đài Lương làm tổng tài, sách gồm 42 quyển (biên soạn vào đời Thanh).

Trên đây là hệ thống các sách viết về nước ngoài và hàng hải của Trung Quốc. Có thể nói rằng những cuốn sách này là những tư liệu cổ rất quý giúp chúng ta hiểu được nhiều phương diện của các quốc Đông Á và Đông Nam Á. Nhưng trong những tác phẩm trên có không ít đoạn mang tính thần thoại, hoang đường, mê tín, dị đoan đặc biệt là các sách: Dị vật chí, Nam phương di vật chí, Lĩnh ngoại đại đáp, Lưỡng Chủng hải đạo châm kinh… Nhưng những câu chữ được dùng của các tác giả Trung Quốc chỉ các nước xung quanh như Man, Di, Địch, Rợ… thể hiện nhận thức đương thời và do đó sẽ là xa lạ với tư tưởng bình đẳng dân tộc, tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia hiện nay. Song điều chúng ta quan tâm hơn hết là tính nhất quán ở các sách đó khi mô tả về hai quần đảo trên biển Đông với tên gọi Thiên lý Trường sa, Vạn lý Thành Đường vẫn thuộc nước ngoài, không thuộc Trung Quốc.

Qua các tư liệu lịch sử, địa lý, bản đồ cổ và các sách viết về nước ngoài và phòng vệ biển của Trung Quốc qua các triều đại, có thể rút ra mấy nhận xét rằng:

Đường hàng hải cổ truyền của Trung Quốc đi xuống phía nam là men theo đại lục Trung Quốc (Việt Nam) xuống Côn Đảo, rối qua eo biển Ma Lac Ca. Phạm vi lãnh thổ Trung Quốc là bờ biển như bờ biển Nhai Châu, đảo Hải Nam ở vĩ độ 18013’ Bắc. Phạm vi tuần tra của thủy quân Trung Quốc là vùng biển ven bờ nhằm mục tiêu chống nạn cướp biển (chủ yếu từ Nhật Bản) và hai quần đảo ở biển Đông trong nhận thức của người Trung Quốc luôn luôn coi là nằm ngoài lãnh thổ Trung Quốc cho đến đầu thế kỷ XX.

Năm 1974 lợi dụng lúc toàn quân ta dồn hết sức lực và của cải để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất tổ quốc thì Trung Quốc liền xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa một cách trái phép. Trong suốt 30 năm đã trôi qua, Hoàng Sa vẫn luôn trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam - Hoàng Sa và Trường Sa mãi là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

NGUYỄN QUANG HÀ

Ban Biên giới - Bộ Ngoại giao Việt Nam

Theo Thông báo Hán Nôm học 2003

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo