Góc nhìn

Cần đặt tiến sĩ vào đúng chỗ là Khoa học

Cập nhật lúc 13-12-2017 08:27:46 (GMT+1)
Lễ nhận bằng trong Văn Miếu: truyền thống khoa cử cũng có mặt trái là người Việt Nam ham bằng cấp, học vị không liên quan

 

Ở Việt Nam, cái thời tiến sĩ mà chúng ta thường chỉ gặp trong các trường đại học và viện nghiên cứu có lẽ đã qua từ cách đây khoảng 15-20 năm trước.


Ngày nay tiến sĩ có ở nhiều nơi không mang tính chất học thuật từ uỷ ban nhân dân phường huyện, quận đến các các cơ quan đoàn thể cấp cao hơn như Đoàn, Đảng, Quốc hội.

Nhìn về số lượng thì đó là một tín hiệu đáng mừng, nhưng về chất lượng thì có nhiều điều cần phải suy nghĩ.

Nhu cầu khoa học sẽ làm tăng số tiến sĩ

Ở Việt Nam, có lẽ do thiếu người thực sự làm khoa học nên hay đánh giá theo hướng đào tạo ra con người

TS Lê Đức Tùng

Khác với sinh viên học đại học và thạc sĩ, nghiên cứu sinh tuy được gọi là sinh viên (tiếng Anh là "PhD student") nhưng được trả lương và học phí qua quĩ nghiên cứu khoa học được tài trợ bởi chính phủ, doanh nghiệp hoặc bản thân trường đại học, viện nghiên cứu.

Ở Anh Quốc, lương cho nghiên cứu sinh khoảng 17 nghìn bảng Anh nhìn chung đủ sống và đặc biệt được miễn thuế - tương đương với mức 20 nghìn bảng có đóng thuế so với mặt bằng chung của xã hội là ở mức trung bình.

Với rất nhiều người, để có một tiến sĩ thì phải đào tạo, nghĩa là người tham gia (nghiên cứu sinh) mang nghĩa "sinh viên" học từ người khác (thầy/cô giáo hướng dẫn) để rồi sau đấy có bằng tiến sĩ.

Tuy nhiên ở nhiều trường đại học hàng đầu, chất lượng đầu vào rất cao nên nghiên cứu sinh mang nghĩa "làm tiến sĩ" hơn là "được đào tạo tiến sĩ".

Sinh viên Anh

Sinh viên Anh chuẩn bị năm học mới - ảnh minh họa

Ví dụ tại UCL (trường đại học hàng tốp 10 thế giới theo QS), mỗi suất quảng cáo thường có khoảng 50-100 lá đơn, sinh viên được chọn thường đặc biệt suất sắc, họ nhận đề tài rồi làm với khả năng độc lập cao không khác nhiều những thành viên khác như người làm sau tiến sĩ (postdoc) trong nhóm cả.

Ở những trường không phải hàng đầu, khả năng chọn được sinh viên suất sắc ít hơn, và nhìn chung có khả năng độc lập kém hơn, phải lệ thuộc nhiều vào người hướng dẫn.

Việt Nam cần làm gì?

Ở các nước tư bản đã phát triển thật khó mà có thể tìm ra một dự án nào mang tên "đào tạo tiến sĩ" chung chung mà không gắn với một dự án cụ thể nào đó

Làm thế nào để đào tạo tiến sĩ một cách có hiệu quả trong điều kiện Việt Nam?

Để có hiệu quả việc đầu tiên là phải đảm bảo chất lượng, đặt tiến sĩ vào đúng vị trí của họ trong môi trường học thuật.

Văn hoá trọng bằng cấp, danh hiệu ở Việtnam trên con đường công danh, thăng quan tiến chức dẫn đến việc tạo ra rất nhiều tiến sĩ theo con đường tại chức, đào tạo ảo trên mạng, hoặc qua những trường quốc tế rởm trao cho người trả tiền bất cứ loại bằng gì mà họ cần.

Đảm bảo chất lượng ở đây đòi hỏi một sự cải tổ sâu rộng trong xã hội Việt nam quan trọng nhất là thay đổi nhận thức của người dân, lãnh đạo trong chuyện bằng cấp.

Đi sau chất lượng, tiếp theo của bài toán hiệu quả ở đây là về kinh tế, đào tạo tiến sĩ theo mô hình nào, hướng nghiên cứu nào phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội Việt nam?

Chi phí trung bình để ra lò một tiến sĩ tại Anh Quốc vào khoảng 150-200 nghìn bảng, gồm trả lương, học phí, tiền hóa chất thiết bị.

Số tiền đó so với một nước nghèo như Việt Nam là rất lớn nên nếu không tính đến hiệu quả kinh tế gửi người đi bằng ngân sách nhà nước thì sẽ cực kì lãng phí.

Làm tiến sĩ hay đào tạo tiến sĩ có thể hiểu theo nghĩa hoàn thành một công việc hay dự án khoa học qua đó tạo ra người có kiến thức.

Bằng cấp

Nhu cầu bằng cấp học hàm học vị ở Việt Nam luôn rất cao

Ở các nước tư bản đã phát triển thật khó mà có thể tìm ra một dự án nào mang tên "đào tạo tiến sĩ" chung chung mà không gắn với một dự án cụ thể nào đó. Ở đây trước tiên người làm nghiên cứu (giáo sư) có ý tưởng khoa học lập dự án xin tiền, nếu được họ thuê người để hoàn thành.

Như vậy quan trọng đầu tiên là ý tưởng khoa học được thực hiện có sản phẩm ứng dụng hoặc bài báo khoa học. Người làm (nghiên cứu sinh) viết luận án có bằng tiến sĩ cũng là sản phẩm của dự án, nhưng việc những tiến sĩ mới ra lò có tiếp tục khoa học hay không là do sự lựa chọn của họ không phải là yếu tố đánh giá sự thành công của dự án.

Ở Việt Nam, có lẽ do thiếu người thực sự làm khoa học nên hay đánh giá theo hướng đào tạo con người.

Gửi người đi đào tạo thế nào?

Nếu nhà nước Việt Nam bỏ tiền gửi người ra nước ngoài, làm theo dự án của nước ngoài thì các kết quả sản phẩm và bài báo không thuộc về Việt Nam, bản thân người làm có bằng tiến sĩ lại cũng không quay về đất nước để phục vụ, thì không có yếu tố nào đánh giá được sự thành công của số tiền rất lớn mà nhà nước phải bỏ ra.

Có không ít trường đại học ở các nước tư bản như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Hà Lan, Mỹ và Anh Quốc việc tìm người bản địa có chất lượng chịu làm tiến sĩ rất khó.

Ở đây, sinh viên giỏi ra trường nếu xin được việc làm cho công ty, doanh nghiệp lương khởi điểm thường cao gấp 1.5-2 lần so với đi làm nghiên cứu sinh.

Trong điều kiện như vậy, các cơ sở Việt Nam có hợp tác với nước ngoài hoàn toàn có thể gửi sinh viên có chất lượng sang làm cho những dự án của họ.

Ở đây các nhóm nước ngoài có người chất lượng làm ra sản phẩm, bài báo, Việt nam không phải bỏ tiền, vấn đề ở đây đặt ra là làm sao để tiến sĩ ra lò quay trở về cống hiến tiếp tục làm khoa học.

Với nền khoa học hiện nay, thực tế là Việt Nam có rất ít ứng viên tốt đảm bảo chất lượng thực sự.

Thư viện một đại học ở Anh

Ở Anh Quốc, các tiến sĩ mới tốt nghiệp có lẽ chỉ dưới 50% xin được việc tiếp tục trong môi trường đại học

Nhiều bạn ở Việt nam kiếm được học bổng đi làm tiến sĩ tại nước ngoài nhưng thường qua các kênh hợp tác, nhóm quen biết chứ không phải theo góc độ thuần túy chất lượng cao có cạnh tranh toàn cầu đặc biệt từ các trường đại học hàng đầu thế giới thuộc hàng top 100.

Thay bằng tìm học bổng nước ngoài, nhà nước có thể tự bỏ tiền ra đào tạo. Ưu điểm của phương án này là nhà nước có thể chọn hướng nghiên cứu thiết thực với nhu cầu đất nước rồi tìm nhóm nghiên cứu để gửi đi.

Tiến sĩ tốt nghiệp nếu về nước có thể tiếp tục hướng nghiên cứu trong môi trường khoa học trong nước. Nếu có học bổng từ nhà nước, ứng viên có thể xin vào những nhóm hàng đầu ở nước ngoài mà không cần đòi hỏi khắt khe về chất lượng.

Nếu chăm chỉ làm việc sinh viên Việt Nam hoàn toàn có thể bắt kịp nhịp độ thậm trí vượt lên những sinh viên khác lúc vào có thể giỏi hơn.

Một số hướng nghiên cứu nếu làm được ở Việt Nam thì mô hình nghiên cứu sinh kết hợp (sandwich PhD student) với 1/2 thời gian ở Việt nam, 1/2 thời gian ở nước ngoài nên được xem xét để giảm số tiền đầu tư mà vẫn đảm bảo về chất lượng.

Cuối cùng là chế độ đãi ngộ với tiến sĩ

Với hiện trạng tiến sĩ thật giả lẫn lộn, nâng cao mức lương cơ bản cho những người có danh tiến sĩ sẽ làm tiến sĩ học ảo trên mạng, tại chức, từ trường đại học quốc tế rởm càng nhiều.

Ở nước nghèo như Việt Nam, nâng cao toàn bộ mức lương tiến sĩ là bất khả thi cho ngân sách, không hiệu quả, ngoài ra còn tạo nên sự mất cân bằng với các thành phần lao động khác trong xã hội vốn cũng là những nghề rất cần thiết và đáng trân trọng.

UCL

Trường University College London (UCL) có các cơ sở nghiên cứu khoa học thuộc loại hàng đầu tại Anh Quốc

Vì thế, vấn đề với Việt nam là cần đãi ngộ với những tiến sĩ thực sự yêu nghề, tâm huyết với khoa học và làm được việc, về điểm này Việt Nam đang làm tương đối tốt.

Với sự có mặt của các quĩ nghiên cứu khoa học rất nhiều tiến sĩ trẻ tốt nghiệp nước ngoài về Việt nam nếu tâm huyết với khoa học thì chỉ một thời gian ngắn 1-2 năm đã có thể thành nhà nghiên cứu độc lập, đứng ra chủ trì 1,2 đề tài được nhà nước tài trợ.

Ví dụ với quỹ Nafosted, mỗi chủ đề tài được nhận thêm 15-20 triệu đồng (gấp khoảng 5 lần mức lương cơ bản cho riến sĩ), như vậy so với mặt bằng xã hội, người làm nghiên cứu có thể tương đối yên tâm tập trung làm khoa học.

Về điểm này, so với nước ngoài Việt Nam đã thể hiện một sự ưu đãi lớn với các tiến sĩ trẻ yêu nghề làm khoa học thực sự.

Ở Anh Quốc, các tiến sĩ mới tốt nghiệp có lẽ chỉ dưới 50% xin được việc tiếp tục trong môi trường đại học, viện nghiên cứu làm hậu tiến sĩ (postdoc) ăn lương theo hợp đồng.

Sau 5-10 năm chỉ khoảng 10-20% trong số các hậu tiến sĩ mới xin được vào làm giảng viên lâu dài và có thể đứng ra xin tiền tự lập nhóm và làm nghiên cứu độc lập.

Như vậy con đường trở thành giảng viên với một tiến sĩ mới ra lò ở nước ngoài khắc nghiệt hơn rất nhiều so với sự lựa chọn quay về Việt nam tiếp tục nghiên cứu và làm việc trong môi trường khoa học.

Tóm lại để tăng số lượng tiến sĩ tại Việt Nam, nhà nước nên tận dụng tối đa các kênh đào tạo khác nhau không chỉ bằng nguồn ngân sách trong nước mà cả ở nước ngoài.

Hiệu quả của việc đào tạo tiến sĩ quan trọng nhất ở khâu chất lượng và thay đổi nhận thức của người dân, lãnh đạo trong chuyện bằng cấp, đặt tiến sĩ vào đúng vị trí của họ trong môi trường khoa học chứ không để có bằng rồi làm việc khác.

Nguồn: Tiến sĩ Lê Đức Tùng/BBC

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo