Văn nghệ

Biển, tình yêu và nỗi uất ức.

Cập nhật lúc 25-08-2014 11:14:44 (GMT+1)

 

Từ ngày khu vực phía nam thành phố được giải tỏa, những khu du lịch nghỉ dưỡng mọc lên như nấm sau mưa ven con đường quốc lộ kéo dài từ sân bay vào đến trung tâm thành phố. Dọc trên con đường ven biển tuyệt đẹp ấy, vẫn thấp thoáng những căn chòi lá, những khu nhà xập xệ của dân chài nơi đây.


(Câu chuyện này được viết dựa trên cuộc đời thật của những người dân chài ở một thành phố ven biển miền trung)

Ở những khu xóm chài này, gia sản của các hộ dân đều gần như giống nhau: một ngôi nhà lụp xụp với mái lá hoặc mái tôn chừng vài ba mét vuông, có nhà là nơi trú ngụ cho khoảng 2 - 3 thế hệ cùng chung sống và một chiếc tàu dùng để đi biển đánh bắt cá. Nhà nào khá giả thuộc loại khá giả thì có tàu to hơn một chút, còn nhà nào kinh tế bình thường thì chỉ có một chiếc ghe nhỏ cũ kỹ. Bao nhiêu năm sống mưu sinh bám biển, người dân chài nơi đây vẫn cần mẫn kiếm sống với con cá con tôm, và với họ nghề đi biển dường như đã là cái nghiệp gắn kết từ đời tổ tiên họ, cho dù trải qua bao nhiêu sóng to gió lớn, bao nhiêu cơn bão dữ, nhưng những người dân chài nơi đây vẫn bám biển để sống. Với những con người ấy, thế giới của họ, cuộc sống của họ bao đời nay vẫn lênh đênh trên những chuyến tàu đánh cá, dập dềnh theo nhịp thời gian của biển cả bao la. Vì không biết từ bao giờ, trong lòng họ đã ghi khắc một tình yêu sâu đậm với biển cả. 

Căn nhà của dì dượng Sáu lụp xụp như một cái chòi canh dưa nép mình trong một xóm chài nhỏ cách những khu resort sang trọng không xa. Nhìn căn nhà ấy chắc chẳng ai dám nghĩ gia đình dì dượng Sáu và bốn đứa con thơ đã ở đó hơn hai mươi năm nay. Dượng Sáu làm nghề đánh cá từ lúc còn là một chàng thanh niên mới lớn. Gia đình dượng sáu ba đời nay đều làm nghề chài lưới, đánh cá, bám biển để sinh sống. Còn dì sáu làm nghề ướp cá, bán cá ngoài cảng. Cứ mỗi buổi sáng, dì phải thức dậy đi ra cảng cá từ lúc mặt trời vừa ló dạng. Đến trưa thì về nhà, lo cơm nước xong, lại quăng gánh lên vai đi dọc bờ biển nướng từng con mực khô, cá khô, hay dăm ba trái xoài, trái cóc với mắm ruốc bán cho khách đến khi trời chập choạng tối mới về nhà. Gánh hàng của dì sáu vốn liếng không có bao nhiêu, nhưng mỗi tháng dì cũng kiếm được vài trăm ngàn để dành dụm, sau này xây lại căn nhà cho vững chắc, khang trang hơn rồi dì tính nếu còn dư giả thì sẽ mua thêm cái tàu mới để thằng con trai lớn đi biển chứ cái tàu của dượng Sáu cũng cũ kỹ quá rồi. Công việc của gia đình dì dượng Sáu bao nhiêu năm nay vẫn thế, dì dượng sáu cứ bám biển mà sống với con cá con mực để nuôi bốn đứa con ăn học.

Những đêm hè, dân đánh cá trong xóm chài thường rủ nhau ra bờ kè tụ tập ngồi tán chuyện, lai rai nhậu vài xị rượu đế, rượu gạo, rượu chuối hột với con mực khô, con cá nướng, thêm trái cóc hay xoài xanh chấm mắm ruốc.. Họ chủ yếu là những người Đàn ông trụ cột trong gia đình, trung niên, lớn tuổi có, thanh niên mới lớn cũng có. Người già nhất trong xóm là ông Bảy Thu, năm nay cũng đã gần 70 tuổi, tuy tuổi đã cao nhưng tháng nào ông cũng kéo tàu đi đánh cá xa bờ một lần, mỗi lần đi cũng đến năm hay bảy ngày mới về lại đất liền. Sở dĩ người dân trong xóm gọi ông là Bảy Thu vì cuộc đời làm nghề đánh cá của ông có duyên với loài cá thu, hầu hết chuyến đi biển nào của ông trở về, trong khoang tàu cũng chứa cả chục con cá thu, con nào con nấy cũng nặng hơn 10kg. Còn mấy cậu thanh niên trong xóm chài, có đứa chỉ mới 15 - 16 tuổi đã theo cha đi biển, tụi nó đứa nào cũng học hành lở dở, một phần vì kinh tế gia đình, một phần vì trong suy nghĩ của tụi nó dù có học cao thì cũng chẳng làm gì, từ lúc nhỏ, trong tâm tưởng của tụi nhỏ nơi đây đã có ý nghĩ rồi sau này lớn lên mình cũng như cha mẹ mình, con trai thì đi biển, làm nghề chài lưới, đánh cá như cha, con gái thì bán cá, ướp cá như mẹ. Cứ như là một định mệnh số trời dành cho dân chài nơi đây, họ đã bám trụ nơi đây từ khi sinh ra, lớn lên lấy vợ, gả chồng, sinh con và cũng chính trong cái lênh đênh vô định ấy có cả những cụ ông, cụ bà đã sống cả cuộc đời lênh đênh với biển cả bao la đến khi nhắm mắt, xuôi tay.

Đêm nay, khi vừa xong bữa cơm tối, dì dượng sáu với mấy người hàng xóm đem tờ báo ra bờ kè lót ngồi hóng mát. Trời mùa hè nóng bức, đêm đến chỉ mong có chút gió biển thổi vào để xóa tan tiết trời oi bức. Câu chuyện thường ngày của những người dân chài nơi đây chẳng có gì đặc biệt ngoài hát cho nhau nghe, chia sẻ cho nhau chút ít kinh nghiệm chế biến mấy con cá con mực để có khẩu vị ngon hơn hay là kể nhau nghe những chuyện buồn vui trong những ngày dài lênh đênh đánh bắt trên biển. Nhưng kể từ ngày cái giàn khoan của Trung Quốc kéo đến đặt trên vùng biển của Việt Nam, dân chài nơi đây lại có chủ đề để bàn tán rôm rả hàng đêm vì họ cũng gặp khó khăn đủ điều khi phải tuân thủ theo lệnh khoang vùng cấm đánh bắt. Chú Hải là dân chài lưới đã ngoài 50 tuổi, với kinh nghiệm hơn 30 năm đi biển, vừa ngồi nhắm con cá khô và ly rượu chuối hột, vừa thở dài nói:

- Cũng nhờ cái giàn khoan đó mà hổm rày hổng thấy mấy chiếc tàu của tụi kiểm ngư biên phòng đậu ngoài cửa chặn ghe xét sổ thâu tiền nữa. Chắc nó lo chạy tuần tra ngoài kia rồi. Chứ bữa hổm lúc tàu của anh Hai Trọng đi qua trạm kiểm ngư, ổng ngồi bên trong buồng lái đưa 100 ngàn nhờ tui chạy ra lấy sổ của ổng bị thâu. Tui vô trạm kiểm ngư rồi đưa tờ 50 ngàn, nghĩ vậy được rồi chớ làm gì tới 100 ngàn. Ai dè thằng cán bộ nó nói: ông nghĩ sao mà đưa 50 ngàn, làm sao đủ mua gói thuốc? Ít nhất cũng phải 100 ngàn để anh em tôi còn có tiền mua thuốc hút chứ. Rồi buộc tui phải nói anh Hai Trọng đưa thêm 50 ngàn, rốt cuộc tổng cộng mất 100 ngàn cho nó mới được về tới cảng cá. Mà tui nghĩ lại, tui chẳng biết tụi nó hút thuốc gì mà đến 100 ngàn một gói, chẳng lẽ thuốc tụi nó hút có tẩm á phiện hay sao mà giá đó. Chứ thuốc tụi mình hút có 20 ngàn một gói chứ mấy.

Ông Bảy Thu đang ngồi rít điều thuốc trên bàn tay chai sạn đen rám, đôi mắt ông mang một nỗi buồn rất lạ với nhiều đường nét chân chim nơi khóe mắt, ông nhìn ra phía biển, hóng từng ngọn gió từ ngoài khơi xa thổi vào. Vừa nghe chú Hải nói, ông Bảy Thu cũng quay sang tiếp lời:

- Mới cách đây vài tháng, nó chặn ghe tao hỏi sổ, tao nói ghe nhỏ xíu vậy chở được bao nhiêu cá đâu mà dám khai gian, chở được nhiêu thì khai bấy nhiêu trên giấy rồi, mà ghe tao đậu ngoài hòn là chủ yếu chứ có vô neo trong cảng nhiều đâu mà ghi sổ? Nó nói, không có sổ thì lai dắt về đồn lập biên bản. Tao nói, đó mấy ông muốn lai kéo gì đó thì cứ kéo chớ sổ có đâu mà đưa. Tụi nó thấy kéo cái ghe cũ kỹ này về đồn thêm mệt chớ được gì nên nhảy xuống hầm lục xét, tìm một hồi hổng thấy gì nhiều hết, chỉ có hai ba thúng cá nục và mực con nên rồi nói thôi để cho tụi tui cặp cá thu này nhe. Lúc đó tao bực mình muốn chửi, không biết tụi nó nghĩ sao khi thấy cái ghe tao nhỏ chút xíu như vậy, đi đánh ba ngày trời được có nhiêu đó mà phải đưa nó một cặp cá thu to nhất, rồi lấy gì tao mua gạo cho vợ con tao đây? Mà thôi tao cũng muốn cho xong chuyện, mắc công tụi nó làm khó làm dễ mình rồi sau này kiếm chuyện mình suốt, nên tao cũng đành chịu cho nó lấy cặp cá thu đó đi.

Dượng Sáu lúc này đã ngà ngà hơi men rượu, nghe chú Hải với ông Bảy Thu kể chuyện, cứ như là đánh trúng vào nỗi lòng uất ức lâu năm của mình nên đặt ly rượu mạnh tay xuống đất rồi buông miệng chửi thề nói:

- Mấy thằng kiểm ngư biên phòng đó, đụng đâu cũng muốn đòi tiền à. Mà tui là tui ghét cái giọng làm cha của tụi nó, chẳng thà muốn xin tiền thì nói đại đi. Hổm bữa nó cũng chặn tàu tui lục xét xong cầm con cá mú to bằng bắp tay đây, rồi quay qua hỏi tui có phải cá đây là mấy ông dùng thuốc nổ đánh phải hông, chớ sao thân nó tức ứ lên vậy? Tui nổi điên nói, tui làm nghề lưới này mấy chục năm rồi nghe, mấy ông tưởng tui thằng con nít sao nói cá đây đánh thuốc nổ để bắt? Tui nghèo thì nghèo chứ tui không có làm cái chuyện thất đức dùng thuốc nổ để đánh cá. Rồi cuối cùng tụi nó nói thôi tàu của tui đánh được nhiều cá tươi, nên cho tụi nó mấy con nhậu chơi. Vậy đó, chẳng thà tụi nó muốn xin thì nói đại muốn xin vậy đi, đằng này đặt điều nói tui xài thuốc nổ. tui mới tức.

Thì ra nạn mãi lộ đâu phải là độc quyền của cảnh sát giao thông đường bộ, mà ngay cả trên biển những người dân phòng kiểm ngư cũng ngang nhiên ăn chặn từng con cá con mực, đến cả những đồng tiền thắm đượm mồ côi nước mắt mặn đắng của người dân chài. Nhưng vì Dân chài sống ở nơi đây là những người ít học, ít chữ nghĩa, thấp cổ bé họng, ít có điều kiện tiếp xúc với thông tin truyền thông, nên những gì họ biết được cũng chỉ là những thông tin truyền miệng cho nhau hay cùng lắm là chiếc radio nho nhỏ cũ kỹ trên những chiếc ghe đánh cá của cuộc mưu sinh trên biển. Thành ra nạn mãi lộ, ăn chặn tiền của dân chài hay ngư dân ít có được nhiều người biết đến. Cho đến tận bây giờ, khi cái giàn khoan xuất hiện rồi di chuyển nhiều chỗ trên vùng biển Việt Nam, đời sống ngư dân cũng bị ảnh hưởng ít nhiều, thì những người ngư dân mới có cơ hội để lên tiếng, để chia sẻ cho người khác biết.

Dì Sáu ngồi bệt trên chiếc chiếu dưới đất, bên cạnh là chén mắm ruốc và đĩa xoài sống, vừa chấm mút vừa kể với mấy dì mấy chị ngồi xung quanh, có mấy hôm thấy dượng Sáu đi biển về với vẻ mặt hằn học bực mình, dì lân la hỏi mới biết ổng bị mấy thằng kiểm ngư thấy mình đánh được nhiều cá nên kiếm chuyện, bắt mình đưa tiền, trình sổ ghe rồi mới cho vô cảng, còn không thì tụi nó đi xuống thẳng ghe lục lọi xin vài con cá, con mực để nhậu, mà tụi nó toàn lựa đồ tươi ngon mà xin, riết rồi thành quen, mình không cho thì tụi nó kiếm chuyện với mình. Lắm lúc dì Sáu nghĩ do gia đình mình còn phải mưu sinh lâu dài, thằng con trai cả của dì dượng chắc chừng vài ba năm nữa là đủ sức để có thể ra khơi một mình, tự đánh bắt nuôi thân, nên dì đành nói với dượng Sáu im lặng ngậm ngùi mà cho qua chuyện, chứ mà làm mất lòng tụi kiểm ngư biên phòng thì sẽ tự gây rắc rối cho mình. Đâu những chỉ mỗi mình gia đình dì dượng Sáu chịu nỗi ngậm ngùi uất hận đó, mà ngay cả những gia đình dân chài khác trong xóm chài này cũng vậy. Ai ai cũng có nỗi lòng uất ức nhưng họ là những người dân chài nghèo khổ, quanh năm sống bám biển để mưu sinh, họ không có cơ hội để nói lên nỗi lòng của mình, để chia sẻ cuộc sống khó khăn của mình cho người khác biết. 

Gia đình ông Bảy Thu còn khó khăn hơn, vợ ông Bảy mất cách đây hơn chục năm trước, để lại cho ông hai đứa con trai và một đứa con gái. Chị Hiền con gái ông bị bệnh thần kinh từ lúc mới sinh ra, lúc tỉnh tảo thì như người bình thường, còn lúc lên cơn thì đập phá đồ đạc trong nhà. Cả gia đình ba người đàn ông mưu sinh chật vật trên chiếc tàu nhỏ bao năm qua, ông Bảy chưa bao giờ từ bỏ ý định dành dụm tiền bạc để chữa bệnh cho chị Hiền, vậy mà sau hơn hai chục năm nay lênh đênh với những chuyến tàu trên biển, gia đình ông cũng chẳng khá giả hơn mấy để có tiền chạy chữa căn bệnh thần kinh quái ác kia cho chị Hiền. Bao nhiêu năm qua, từ những chuyến đi biển đánh cá, kinh nghiệm trên biển có thừa, sức khỏe thì ngày một yếu dần nhưng ước mơ nhỏ nhoi được có đủ tiền chữa bệnh cho con gái mình thì chưa ngày nào ông từ bỏ. Cứ mỗi năm trôi qua, tuổi ngày càng già, sức khỏe cũng ngày một yếu đi, và ước nguyện có được số tiền để chạy chữa khỏi căn bệnh tâm thần cho chị Hiền lại càng thôi thúc ông nhiều hơn. Nhưng rồi nhiều năm đã qua, ước nguyện ấy của ông Bảy vẫn còn dang dở. Ông vẫn luôn mang trong lòng mình một nỗi day dứt khi nghĩ cuộc đời mình sau nhiều ngày tháng lênh đênh trên biển cả rồi đến một lúc nào đó nhắm mắt xuôi tay, mình sẽ để lại được gì cho con cái, ngoài chiếc ghe đánh cá cũ kỹ và căn nhà lá lụp xụp trong khu xóm chài kia. 

Những người dân chài nơi đây sống bám biển mưu sinh, cả đời chẳng dư giả gì mấy. Tiền bạc họ kiếm được từ những con cá con mực thắm đượm cả vị mặn chát của biển và những giọt mồ hôi vất vả sau bao ngày tháng thức khuya dậy sớm lênh đênh trên biển, vậy mà cuộc đời họ cũng không thoát nổi cái nghèo, không thoát nổi sự bóc lột, ăn chặn, mãi lộ của những người kiểm ngư, dân phòng trên biển. Với những người dân chài hiền lành chân thật chất vác nơi đây, chẳng có sự lựa chọn nào hơn, ước vọng lên bờ. ước vọng đổi đời, ước vọng có nhà cao cửa rộng, mãi vẫn chỉ là ước vọng từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác, dở dang và chưa trọn vẹn. Vì tình yêu với biển cả bao la, vì cuộc sống mưu sinh nghiệt ngã hay vì số mệnh đã gắn kết cuộc đời họ với cái nghiệp dân chài, mà bao năm qua, họ vẫn âm thầm chấp nhận cuộc sống chông chênh, cơ cực, dưới sự chèn ép, bóc lột trên những chuyến tàu đánh cá mà không phải ai cũng có thể thấu hiểu được.

Nguồn: Long Vi/ baocalitoday

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo