Văn nghệ

Hai phía chân trời (1)

Cập nhật lúc 11-02-2012 11:44:03 (GMT+1)

 

Nhân dịp Trung tâm sản xuất phim truyền hình VFC, VTV làm phim truyền hình 34 tập tại Praha vào đầu năm 2012 với tên  “Hai phía chân trời” từ cốt chuyện với nhan đề  “Máu của tuyết”, giới thiệu đến bạn đọc truyện ngắn “Hai phía chân trời”.



 Truyện ngắn của Trần Hoài Văn 

Phố núi. Chiều cuối năm.

     Những hạt mưa li ti thoảng như hơi thở phà nhưng cũng đủ làm ướt áo kẻ bộ hành. Con phố nghèo với vài mươi nóc nhà gà gật hứng lây rây bụi nước trông ngơ ngẩn, thất thần như một kẻ nát rượu chưa tỉnh hẳn cơn say. Con đường được gọi là phố, thôi thì dù là phố huyện, mặc lòng hắn đã cố tránh nhưng cơn mưa dầm thấm lâu biến thành những vũng cháo quánh khiến hai ống quần hắn toe toét vết bùn bắn.

     Cuối con đường có một ngôi nhà xiêu xiêu, đứng hơi xa các ngôi nhà khác như gã say bần tiện đang độc ẩm bữa rượu cạn. Đó là nơi hắn muốn đến năm năm trước đây và phải đến bây giờ…Càng tới gần, đôi chân hắn tự đi chậm lại tưạ phải đến gần một gái làng chơi bất đắc dĩ chỉ vì nể nang, chỉ vì thương hại.Nhà quê

     Hắn tần ngần dễ đến hai lần bên hàng rào găng có cái cổng được buộc bằng mấy thanh tre dúm dó. Đành phải vậy thôi. Hắn nhủ lòng. Đành phải băng qua mảnh sân đất nện đỏ au nhăn nhúm vì cơn mưa châm chích, gặp lại những người mà suốt năm năm qua chọn một nơi bé nhỏ nhất nép sâu lom khom, e dè trong tâm trí hắn. Họ cứ ngồi im nơi đó, kiên nhẫn, thậm chí mang dáng vẻ thảm hại của kẻ cùng đường với ánh mắt khẩn cầu, da diết, đau khổ và tuyệt vọng...Thoảng họ lại nhoi lên lăn tăn yếu ớt như đám cá bột đủ để hắn chợt ngắc lại khi nuốt ngụm rượu nhạt vào những đêm trống rỗng, không một ấm áp dù chỉ một hơi thở hắt.

     Hắn đưa tay ngập ngừng đẩy chiếc cổng tre, rồi rụt phắt lại như đang bốc bải ăn vụng thì bị ai đánh mạnh vào tay. Có nên không nhỉ? Hắn tự hỏi. Có cần sự xuất hiện của ta và những điều chết tiệt mà ta phải nói với họ không nhỉ? Bởi chả cần thêm chút đau buồn nào thì chiều phố núi đã quá thê lương, ảm đạm như gã nghiện đang lên cơn và muốn tự sát khi nhìn vỏ chai khô lăn lóc bên cạnh, trong túi thì nhẵn không còn một cắc. Hay cứ mặc họ sống tiếp quãng đời còn lại với một hy vọng đau đáu để mà bấu víu, để mà chờ đợi, để khỏi nghĩ đến cái sự vô nghĩa khi phải sống tiếp? Liệu có độc ác không khi lát nữa thôi, hắn, chính hắn sẽ tước đi của họ niềm hy vọng sum họp mà họ đã ngong ngóng trông đợi bao năm qua. Có nên không nhỉ? Có nên…

     Theo thói quen hắn thò tay vào túi tìm thuốc lá. Bao thuốc không thấy và ngón tay hắn chợt chạm phải cái gói hình chữ nhật vuông vắn được buộc chặt bằng mấy sợi dây chun. Trước đây, bao giờ cũng vậy, dẫu có mệt mỏi và chán nản đến đâu, chỉ cần nhìn thấy những tờ giấy bạc màu nõn chuối có in hình mấy ông mũi lõ tóc quăn kia là tình yêu cuộc sống trong hắn lại ngo ngoe ngóc đầu dậy. Nhưng lúc này đây cái cảm giác nẫu lòng không hề biến đi. Nó chỉ càng nhắc nhở và cấu vào nỗi mất mát…Nỗi mất mát của kiếp người. Nỗi mất mát của sự đánh đổi. Liệu tập đô la mà hắn có nhiệm vụ phải chuyển đến tận tay họ có làm thay đổi kiếp đời khốn khó mà họ đã từng ao ước trước đây hay chỉ càng vướng mắc vào sự tuyệt vọng mà không gì mua lại được? Hắn bỗng thương thân khi phải đứng đây trong sự giày vò rồi ngậm ngùi cho cả số phận mình…Khốn nạn!

     Hắn lôi tập tập tiền ra nhìn trừng trừng. Ờ, chẳng phải là hắn đã bao công vất vả tìm kiếm mới gặp được người đàn bà, chủ nhân của những đồng tiền này ư? Chẳng phải hắn đã mất năm năm trời ròng rã đó ư? Chẳng phải vết chân hắn đã lang thang qua bao thành phố, thị xã, làng mạc xa lắc xa lơ ở tận góc trời Âu đó ư? Chẳng phải hắn đã hi vọng rồi thất vọng, rồi lại lé lói hi vọng, rồi thì tuyệt vọng đó ư? Và khi hắn tưởng đã cố quên được người đàn bà này cho cuộc sống được chút nhẹ nhõm thì nhờ vào một sự ngẫu nhiên đến kì diệu của số phận, hắn đã gặp được chị…

       * * *

       Chiều Noel năm ấy…

     Khi những cơn mưa tuyết trút xuống như nỗi tức giận không kìm giữ nhấn chìm những người dân bản xứ hối hả đi như chạy để mau kịp về nhà cùng gia đình quây quần bên bữa tiệc giáng sinh, thì hắn và đám bạn trong ban biên tập một tờ báo tiếng Việt cũng sum họp bên bàn rượu. Để quên nỗi buồn xa xứ, quên kiếp tha hương, quên cả niềm vui cạn dần trong mỗi ngụm rượu đắng chát đầu lưỡi. Rượu. Chỉ có rượu chảy tràn mỗi dịp thế này mới làm tan chảy được nỗi cô đơn và chán chường đặc quánh lại như cục cao hổ rởm.

     Đã thành lệ, hàng năm, cứ dịp này, họ lại quây quần cùng nhau nhậu một trận đã đời để tạm chia tay. Người về Việt Nam thăm nhà trong dịp tết. Người đi tìm thú vui ở những bãi biển “tự nhiên” đầy nắng gió với những nàng tiên da nâu không một mảnh vải che thân nằm phơi mình dưới bóng dừa của miền xích đạo. Kẻ không có tiền đi du lịch hay về quê hương thì nằm trợn mắt nhìn trần nhà, hoặc tìm thú vui bên những ả gái điếm da trắng rẻ tiền, nốc vốt ka ừng ực và uể oải làm tình trong tiếng gầm gào man rợ của bão tuyết. Cuộc mưu sinh là vậy. Dù thắng hay bại sau một năm lăn lộn khốn khổ khốn nạn chốn thương trường nơi xứ người, đây là những lúc họ cần xả hơi trong những ngày chợ đuội. Để rồi sau hai, ba tuần, khi mà âm hưởng của ngày Giáng sinh và năm mới qua đi, khi mà mọi thú vui cũng nhọc nhằn không kém khi vật lộn mưu sinh chỉ còn là trong hơi thở ngắn, họ lại lao vào cuộc sinh kế khốn đốn đầy những rủi ro, trắc trở, những mưu toan, thậm chí thấp thoáng cả tội ác, lừa lọc, phản trắc…Kiếp nạn ấy là kiếp người!Vánoce noel

     Hắn cũng đã có những giây phút phiêu diêu, ngật ngưỡng trên những bãi biển rực nắng của Địa Trung Hải, bên các nàng tiên da nâu, mắt xanh khi trong túi rổn rảng mĩ kim. Có năm đen đủi, thất bát, hắn cũng đã đón những cái tết cô đơn, quạnh quẽ trong căn phòng bừa bộn, bẩn thỉu như chuồng lợn, gặm bánh mì đen, nốc thứ rượu uống vào xóc xuyên đỉnh đầu và muốn lộn mửa cả lục phủ ngũ tạng, lòng thầm mong cuộc viếng thăm của một ả điếm ế quen biết. Nhưng năm nay hắn quyết về thăm nhà. Lần cuối cùng gọi điện về, hắn đã phải lỗ mãng dập điện thoại để khỏi nghe tiếng khóc nỉ non của mẹ hắn, một người đàn bà khốn khổ cả đời mà chả vì lẽ gì, ngoài thói quen tổ tông truyền là phải giữ nghiêm đạo hạnh để người đời khỏi nhìn vào sự mọt rỗng đang ăn mòn sức lực và niềm vui ít ỏi của bà. Mặc dù làm ăn chỉ đủ nuôi cái miệng vốn không phải được nuôi dưỡng bằng những thứ cao lương mĩ vị gì từ thuở lọt lòng, song hắn đã vay mượn được một ít tiền để mua vé, mua quà cho người thân, và dĩ nhiên, có một cơ số nho nhỏ để rong chơi, nhậu nhẹt bên những em Hồng, em Nụ…Và để thoả cơn sĩ diện của những kẻ sống bên trời tây khi bị các cặp mắt hau háu ở nhà soi vào như chiêm ngưỡng cái sự may mắn vừa từ thiên đường rớt xuống…

     Khi tuần bia thứ tư thay cho bữa rượu đã no nê chuẩn bị được đổ vào những cái thùng vỡ đáy qua các vòm họng đương rổn rảng tiếng nói cười thì cánh cửa xịch mở. Ông già bảo vệ ló đầu vào:

     - Các ông có thư nhà!

     Trong cái không khí hỗn tạp quanh quánh sặc mùi trần tục đủ cả tham, sân, si, thì hai chữ “thư nhà” vang lên như một tiếng chuông chùa trong vắt từ xa thẳm vọng về. Những khuôn mặt bóng nhẫy, đỏ ké chợt giãn ra, thừ thẫn. Có một khoảng lặng loang ra tựa vết dầu nhỏ…Rồi ai đó kêu lên thảng thốt: thư nhà! Sau đó là tiếng ồ à, tiếng cười, tiếng văng tục vì sung sướng, ngạc nhiên. Phải! Thư nhà! Hai tiếng đó rơi đúng lúc tâm hồn những kẻ lang thang có thâm niên như bọn hắn không có gì bảo hiểm để khỏi rơi xuống miền tăm tối của sự yếu đuối mà trong cuộc mưu sinh nơi đây không cho phép sa vào. Có thể chỉ là một lá thư thôi cũng đã là cả một miền quê đầy nắng gió, cả bờ biển ấp áp quanh năm, cả mối tình thiêng liêng nào đó đành rũ bỏ lại…Tất cả ở trong đó. Một nỗi niềm. Một tình yêu. Một món nợ không trả nổi. Một sự oán trách. Có thể cả một hận thù…Nhưng dù gì thì nó vẫn là sợi dây mong manh kéo gần sự thân thiết lại, nhất là trong buổi chiều Noel giá lạnh như thế này.

    Bức thư nhầu nhĩ được một thằng tốt giọng đọc lên. Ấy là câu chuyện tình buồn nhuốm màu thời chiếm hữu nô lệ mà bọn hắn được nghe trước thềm thiên niên kỉ mới. Bức thư viết sai be bét chính tả và kể lể dài dòng tối nghĩa. Phải lắng nghe và sắp xếp lại mới hiểu được chủ nhân của nó muốn nói gì. Anh ta kể rằng, tên đích danh là Mịch, nhà ở một phố núi xa xôi. Có vợ và con gái lớn sang đất nước Đông Âu này đã hai năm. Nhưng đến giờ tuyệt không một dòng thư, không một lần điện thoại. Anh Mịch đã nhờ người làng cũng đang làm ăn bên đó tìm kiếm hộ, song vẫn biệt vô âm tín. Theo sự gợi ý của người này, anh viết thư nhờ tờ báo của bọn hắn đăng tin trong mục “Tìm người thân”.

     “Các anh ơi hãy giúp bố con tôi với. Tôi đội ơn các anh!”- đó là câu cuối cùng khi anh Mịch kết thúc bức thư. Tất cả im lặng cúi đầu. Ai đó tợp một ngụm rượu lớn mà khi qua cổ họng thoáng nghẹn lại khiến phát ra một tiếng hực. Mục tìm người thân đã đăng quá nhiều tin tức kiểu thế này. Nhưng tất cả rơi vào im lặng. Và sau đó là chôn trong nấm mồ tập thể của sự lãng quên.

     Giọng khê đặc của một kẻ nửa say nửa buông rơi trong cảm giác của sự tuyệt vọng:

     - Thì hãy đăng cho anh ta.

     Giọng khác tỉnh táo trong nỗi chán chường:

     - Cũng thế thôi dù có đăng hết năm này sang năm khác… Có khi cho đến tận kiếp sau.

     Vò vò cái đầu hói nhẵn thín như trái dưa hấu loại bốn mươi xu một kilôgam, tổng biên tập nhìn hắn:

     - Ông thử sang bên biên phòng xem họ có giam giữ hai mẹ con chị Tình không? Tiện thể, nhờ họ hỏi luôn bên cảnh sát xem sao?

     Hắn loạng choạng đứng dậy, khoác áo.

     Mọi người ngạc nhiên nhìn hắn:

     - Ơ, sao, đi luôn à? Giờ này không có ma nào tiếp ông đâu.

    Mùa đông lạnh tại châu Âu Hắn chẳng nói chẳng rằng bỏ đi luôn. Không còn hứng để nốc rượu nữa. Một cảm giác trống rỗng, ảo não đến độ có đưa hoa khôi hoàn vũ đến trước mặt hắn lúc này thì cũng không khiến hắn hứng khởi lên được. Kiếp nạn! Kiếp nạn! Hắn lẩm bẩm như một kẻ điên.

     Ra đến đường, nhẩy cầng cẫng dưới cái lạnh âm hai mươi độ hơn mười lăm phút mà vẫn không bắt được taxi, hắn đành mở cửa xe, tự lái lấy. Lòng thầm cầu Chúa đừng để tụi cảnh sát tóm được. Đêm nay là đêm Giáng sinh mà. Chúa lòng lành đừng để hắn bị bắt nhốt ít nhất cũng vài ngày về cái tội uống rượu cầm vô lăng thì mất toi cú về thăm nhà mà đã tốn công thu xếp.

     Chiếc xe cà khổ khật khừ chạy trên con đường trơn tuột vì một lớp băng mỏng như tráng mỡ. Còn hắn ngất ngư sau tay lái. Con đường vắng hoe hoắt dài vô tận rực rỡ đèn màu và những cây thông ánh sáng trơ chọi chọc thủng màn đêm…Chả dám chạy nhanh vì bánh xe không bám được mặt đường. Vả lại không hiểu sao chính lúc này đây hắn thu mình thinh thích trong cảm giác cô đơn mang mang. Một nỗi cô đơn nồng nồng như men rượu mới nhấp thì thấy sợ và mềm môi tự lúc nào. Cả một chặng đường dài hình như chỉ có một ô tô đi ngược chiều. Ngồi sau tay lái là một kẻ chắc còn say hơn hắn vì cái xe như đang lẳng lơ khiêu vũ với hai bên đường.

     Sau một hồi cô đơn với con đường, hắn cũng mò đến được trụ sở đồn biên phòng. Đúng như dự đoán, chỉ có ba chú lính quèn ngồi trực bên một đống vỏ chai rượu lăn lóc, những đĩa dưa chuột muối héo khô và đám thịt hun khói thâm sì...

(còn nữa)

> Những bài liên quan

Tháng Tám năm 2005

Trần Hoài Văn

    Chú thích:
    (*) Bộ đội: Đây là tiếng lóng để chỉ những người Việt Nam định cư bất hợp pháp tại Nga và các nước Đông Âu

Nguồn: huongsacviet

 

Tiêu điểm
Quảng cáo