Văn nghệ

Lâm Quang Mỹ trên đường văn nghiệp không ít chông gai...

Cập nhật lúc 18-02-2011 13:31:39 (GMT+1)
Ảnh minh họa- Nguồn: nguyentrongtao.org

 

Tiến sĩ - nhà thơ Lâm Quang Mỹ hiện sống, làm việc ở Ba Lan và là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, hội viên Hội nhà văn Ba Lan.


Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức ở ven sông Lam, gần cửa Hội. Dòng tộc của ông có truyền thống học hành mang dòng họ của quan đại thần triều Lê- Nguyễn Xí, nhưng đến những đời sau này, do bất mãn với triều đình nhà Nguyễn, cụ nội của ông đã từ quan về quê dạy học. Từ nhỏ, ông đã rất thích khám phá những cuốn sách hay trong tủ sách của gia đình mình để lại. Anh trai ông là học sinh trường tư thục Cao Xuân Dục- Hà Tĩnh. Cụ thân sinh ông đã học trường Quốc học Vinh và sớm đi theo cách mạng. Mẹ ông đã một mình đảm đang nuôi dạy con cái trưởng thành. Thuở nhỏ, ông thường được mẹ hát ru bằng những bài dân ca, những điệu hò ví dặm, đọc và ngâm truyện Kiều cho ông nghe. Những bài thơ hay được anh trai chép tay bằng mực tím, ông đã thuộc lòng đến tận bây giờ. Chiếc nôi của làng quê văn hóa, của gia đình có truyền thống hiếu học đã nuôi dưỡng tâm hồn bé thơ của ông tình yêu quê mẹ đến vô bờ. Ông đã tốt nghiệp phổ thông tại trường Huỳnh Thúc Kháng – Vinh (tiền thân là trường Quốc học Vinh, một trường trung học nổi tiếng ở miền Trung đã có gần 100 tuổi). Hơn 60 năm trước, Tiến sỹ- nhà thơ Lâm Quang Mỹ sinh ra trong một ngôi nhà bé nhỏ, giữa một khu rừng thưa. Mỗi buổi ban mai, tiếng chim rừng trong vắt ánh bình minh chiếu rọi những tia sáng lấp lánh, khu rừng ánh lên một vẻ đẹp lạ thường. Ấn tượng huyền diệu đó đã theo ông suốt cuộc đời. Rồi một ngày, bút danh Lâm Quang Mỹ đã xuất hiện với những bài thơ đầu tiên trong sự nghiệp văn chương của mình.

Sinh ra trong chiến tranh, trải qua tuổi thơ nghèo khó nhưng ăm ắp kỷ niệm với thiên nhiên và con người nơi đây, trong tâm hồn ông ngay từ thuở bé thơ đã lóe lên những vần thơ thấm đậm tình đất, tình người: Cái chảo quê rang bằng lửa gió Lào/ Tấm phản gỗ nóng quằn vỏ đỗ/ Đòn gánh bỏng vai tan buổi chợ/ Mồ hôi lưng mẹ áo khô giòn/ Giếng làng chắt nửa gầu là cát/ Phần đục mẹ uống rồi/ Phần trong để cho con...(Mẹ và quê) hoặc: Qua chuyến đò ngang là quê ngoại/ Đường sống trâu bùn lấm bấm chân về/ Gió bấc ngọn tre cào mái rạ/ Sóng nghèo ì oạp vỗ chân đê. Và trong “muộn màng”, ông đã không giấu nổi lòng mình: “ Đường xưa gặp lại người xưa/ Vá lòng nhau những câu thơ muộn màng/ Thu trao lá chọn sắc vàng/ Ta trao trọn cả muộn màng cho nhau...”


 
Tiến sĩ-Nhà thơ Lâm Quang Mỹ

Nhận xét về thơ Lâm Quang Mỹ, nhà phê bình văn học, nhà thơ nhà văn Leszek Zulinski nói: “Thật thú vị khi được đọc những vần thơ từ đất nước xa xôi, khác biệt về văn hóa và phát hiện ra là nó lại rất ... gần gũi với chúng ta. Thơ châu Âu cũng có những đề tài, sự đắm say và nỗi buồn như vậy. Nhưng chắc chắn rằng nền văn hóa xa xôi ấy được gắn chặt hơn với thiên nhiên và sự sống. Sự hài hòa giữa thiên nhiên và thế giới con người được thể hiện (trong thơ). Có thể bởi thế mà ở Việt Nam, một đất nước với nhiều vết thương đẫm máu đã có những vần thơ êm dịu và mang vẻ đẹp thế giới này đến như vậy. Thơ đã không mất đi niềm hy vọng và lòng hâm mộ”.

Năm 1965 khi nhận được giấy triệu tập đi học nước ngoài của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, ông thấp thỏm mong được học văn chương để thỏa ước ao của mình, nhưng rồi ông lại “ bị” phân công học vô tuyến điện- một ngành kỹ thuật mũi nhọn để kiến thiết đất nước sau chiến tranh. Sống trên đất Ba Lan, một “cường quốc văn chương”, ông “may mắn” thường xuyên tiếp cận với nền văn học rực rỡ với bốn giải Nobel. Sau khi nhận bằng tốt nhiệp cử nhân loại ưu, ông trở về nước, mong được giảng dạy để có dịp tiếp xúc với con người, tạo nguồn cảm hứng cho sáng tác, nhưng lại “bị” phân  công về nghiên cứu tại Viện Vật lý, Viện Khoa học Việt Nam. Trong thời gian đó, vừa làm việc, ông vừa tranh thủ đọc các loại sách văn học và sáng tác thơ. Về hình thức, thơ ông đượm “sắc màu vật lý” nhưng nội dung lại chan chứa tình người, tình nhân thế: Ta đang sống trong không gian ba chiều/ Sao vẫn thấy đời mình quá chật/ Rồi một ngày bỗng thấy lòng bát ngát/ Thêm một chiều thăm thăm với tình yêu (Bốn chiều). Hoặc: Gặp em trong cơn đói tình yêu/Em trao nụ hôn/ giống hệt bữa ăn của mẹ. Ngọt bùi bát cơm ngô/và vị đắng thân cây rau diếp/trong anh đượm mãi đến giờ (Nụ hôn em trao). Nhà thơ - nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo nhận xét: “Tôi có cảm giác như Lâm Quang Mỹ dùng thơ để giải thích những hiện tượng vật lý ám ảnh trong đời sống của người làm khoa học. Anh đặt cho tình yêu thành chiều thứ tư trong không gian bốn chiều của anh. Anh nhìn ra đất như người yêu, nơi dinh dưỡng sắc hoa. Anh nhận biết sự mau chóng của tình yêu ngược sự lâu dài của tình người. Những ví von Người yêu như quả bom nổ không thể có được nếu người thơ không phải nhà khoa học, và quả bom ấy có lúc lại ghê gớm như một cơn lũ xoáy. Lâm Quang Mỹ có một kiểu lập tứ riêng, một cách lập ngôn riêng, từ một nghề riêng – nghề Vật lý...”.

Sau 18 năm làm việc tại Viện Khoa học Việt Nam, năm 1989 trong một kế hoạch hợp tác quốc tế, trao đổi cán bộ khoa học kỹ thuật ông được cử sang nghiên cứu tại Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan. Trong thời kỳ này, nhà thơ Lâm Quang Mỹ cũng rất tích cực thâm nhập vào cuộc sống văn học đầy sôi động trên đất nước Ba Lan. Ông và một số bạn văn người nước ngoài ở Ba Lan đã thành lập “Hội những người nước ngoài viết văn ở Ba Lan”. Vì vậy, thơ ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng: Anh, Nga, Ba Lan, Tiệp, Ý, Ukraina. Ông đã có gần 700 buổi đọc thơ và văn học Việt Nam cho bạn đọc Ba Lan, xuất bản 5 đầu sách bằng các thứ tiếng: Việt, Ba Lan, Anh, Tiệp và đăng tải khá nhiều trên các báo, tạp chí Văn học nghệ thuật ở các nước châu Âu. Năm 2006, ông được ủy ban UNESCO Ba Lan tặng thưởng về thơ và hoạt động thơ. Cũng trong năm này, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam, năm 2007 ông là một trong rất ít công dân nước ngoài được kết nạp vào Hội nhà văn Ba Lan.
 



Nhà thơ Lâm Quang Mỹ giới thiệu thơ với bạn bè quốc tế 


Nhận thấy các  thư viện ở Ba Lan vắng bóng những tác phẩm văn học Việt Nam nhất là thơ, lòng “tự ái” dân tộc nổi lên, ông đã quyết tâm truyền bá văn học Việt Nam ra thế giới. Việc đầu tiên là dịch và giới thiệu thơ cổ điển Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX (mở đầu là lời tuyên ngôn độc lập đầu tiên bằng thơ: “ Sông núi nước Nam” của Lý Thường Kiệt và kết thúc là những bài thơ hóm hỉnh nặng nỗi đau đời của Tú Xương). Đây là nền thơ của một giai đoạn lịch sử hào hùng chống ngoại xâm bảo vệ nền độc lập và giữ gìn tinh hoa bản sắc văn hóa dân tộc đặc biệt là tiếng Việt. Việc dịch thuật đã “ngốn” khá nhiều thời gian và sức lực, ảnh hưởng không nhỏ đến việc sáng tác của ông. Hiện nay, ông đang tiếp tục dịch thơ cận đại và hiện đại của Việt Nam ra tiếng Ba Lan.

Quả thực, khi được tiếp xúc với Tiến sỹ Vật Lý, nhà văn Việt Nam, nhà văn Ba Lan Lâm Quang Mỹ tại Hội nghị Quốc tế về văn học Việt Nam (tháng 1/2010), tại Đại hội Hội nhà văn Việt Nam lần thứ XIII (tháng 8/2010) và nhất là được đọc  kỹ các tác phẩm của ông, tôi rất lấy làm tự hào, dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam có những người con giản dị, khiêm nhường, thành đạt đã giới thiệu văn chương Việt với những người nước ngoài yêu văn chương, góp phần không nhỏ vào việc nối nhịp cầu văn hóa giữa các dân tộc. Tuyển tập thơ cổ điển Việt Nam đã được các nhà phê bình văn học Ba Lan đánh giá rất cao và coi đó là “sự kiện lớn của văn học Ba Lan năm 2010” (Milos Manaterski - Tổng biên tập báo điện tử của Hội nhà văn Ba Lan).

Trần Thị Nương

Theo Quehuong

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo