Liên bang Đức

Chính sách di trú Ðức và những khó khăn (1)

Cập nhật lúc 06-05-2012 12:40:55 (GMT+1)
Các thành viên trong German Study Tour đang được đưa vào gặp ông Hans-Ulrich Klose tại trụ sở Quốc Hội Ðức, Berlin. (Hình: Hà

 

Với một dân số ngày càng giảm và càng già, để có thể cung ứng đủ chuyên viên cho các hãng xưởng trong năm 2013, nước Ðức cần phải thu hút được từ 400,000 đến 800,000 di dân có tay nghề cao. Thế nhưng trong vòng 2 năm qua, số người di dân đến Ðức ngày càng giảm (khoảng 95,000 người hàng năm).


Lo âu về viễn ảnh của tình trạng thiếu hụt nhân sự kéo dài và hậu quả tiêu cực của nó trên nền kinh tế hiện đang mạnh nhất Âu Châu của mình, chính quyền Ðức, trong trung tuần Tháng Tư, qua tổ chức phi chính phủ American Council on Germany, trụ sở ở New York, đã tài trợ một “German Study Tour” kéo dài năm ngày, và mời nhóm chuyên viên Hoa Kỳ thuộc nhiều giới đến Berlin, gặp gỡ và thảo luận với các viên chức cao cấp của Ðức về thử thách của cả xã hội lẫn chính quyền Ðức trong chính sách di dân, và những thay đổi cần phải có để thu hút thêm người nước ngoài đến đây sinh sống. Mục đích của chuyến đi là để trao đổi kinh nghiệm di dân của hai quốc gia.

Phóng viên Hà Giang của nhật báo Người Việt là một trong 15 người tham dự Study Tour, tường thuật về chuyến đi trong bài viết dưới đây.

Từ kỳ thị chủng tộc đến “quốc gia di dân”

Với dân số khoảng 80 triệu, trong đó 16 triệu người có gốc gác di dân (chính họ là di dân hay có cha mẹ là người di dân), tỉ số di dân ở Ðức khá cao, gần 20%, chỉ thấp hơn Hoa Kỳ.

Thế nhưng rất khác với Hiệp Chủng Quốc, vì rất nhiều lý do, mãi cho đến rất gần đây, nước Ðức mới bắt đầu xem mình như một quốc gia di dân.

Tóm lược về sự thay đổi này, bà Gabriel Hauser, tổng giám đốc đặc trách Di Dân, thuộc Bộ Nội Vụ, phát biểu:

“Chúng tôi thực sự rất cần người trẻ, vì thế cần có một quan điểm khác về người di dân. Nước Ðức, cho đến cuối Tháng Mười Hai năm ngoái, mới cho mình là một quốc gia di dân.”

Ông Ali Aslan, người dẫn chương trình đài Deutsche Welle, sinh trưởng ở Ðức, nhưng cha mẹ từ Thổ Nhĩ Kỳ đến Ðức di dân từ thập niên 1960s, nhấn mạnh:

“Tương lai và định mệnh của nước Ðức tùy thuộc vào cách giải quyết tình trạng kỳ thị chủng tộc, và làm sao để người di dân có thể hội nhập vào xã hội Ðức.”

Ông Sarmad Hussain, người Ðức gốc Parkistan, cố vấn về chính sách đối ngoại của nhiều thành viên trong Quốc Hội Ðức cho rằng:

“Việc hội nhập của người Hồi Giáo đóng vai trò then chốt, và muốn có kết quả, cần phải hội thảo giữa các cấp chính quyền với đại diện cộng đồng người Muslim.”

Trong khi đó, ông Hans-Ulrich Klose, thuộc đảng Dân Chủ Xã Hội Ðức (SDP), một thành viên của Quốc Hội, đồng ý rằng “Ðức cần phải tạo ra một thực tế mới về di dân và người di dân”, nhưng tỏ ra bi quan:

“Phải cả 30 năm nữa Ðức mới có thể có một chính sách di dân giống Hoa Kỳ, với điều kiện những thay đổi chính sách được thực hiện đúng hướng.”

Những khó khăn của chuyển hướng

Nhu cầu trẻ trung hóa dân số cộng với nhu cầu cung cấp hàng trăm ngàn công nhân và chuyên viên có tay nghề cao khiến chính phủ Ðức buộc lòng phải thay đổi chính sách di dân, để vừa thu hút được người nước ngoài đến đây định cư, vừa giữ được những người Ðức trẻ gốc Thổ Nhĩ Kỳ, giờ đã tốt nghiệp đại học ở lại nước Ðức.

Thế nhưng, từ một quốc gia có truyền thống lâu đời là “kỳ thị chủng tộc”, xem tất những ai không có 100% giòng máu Ðức là người nước ngoài, muốn thay đổi hẳn quan niệm, muốn biến thành một nước di dân, nước Ðức phải đối diện với rất nhiều khó khăn.

Một trong những khó khăn đó, theo ông Ali Aslan, người dẫn chương trình đài Deutsche Welle, sinh trưởng ở Ðức, nhưng cha mẹ từ Thổ Nhĩ Kỳ đến Ðức di dân từ thập niên 1960s, là do thái độ “loại trừ” người nước ngoài của dân Ðức với người nước ngoài, nhất là người Hồi Giáo.

Ông nói:

“Tình trạng (kỳ thị) quá tệ đến nỗi hơn 25% giới trẻ người Ðức gốc Thổ Nhĩ Kỳ không muốn trở thành công dân Ðức, họ tìm cách đi xin việc ở những nước khác, vì không muốn sống ở đây.”

Vết thương tạo ra do thành kiến lâu đời giữa người bản xứ và di dân Hồi Giáo là một vấn nạn mà gốc rễ đã mọc sâu trong xã hội Ðức, mà người tham dự hội thảo có cảm tưởng mình có thể chạm tay vào được.

Trong các buổi hội thảo kéo dài suốt tuần lễ, sự kiện cuốn sách “German Abolishes Itself” xuất bản năm 2010 được trở thành “Best Seller” với số bán hơn 4 triệu cuốn liên tục được nhắc đến như một chứng cớ là sự kỳ thị này vẫn còn rất rõ nét.

“Làm sao có thể bảo người Muslim hội nhập khi người Ðức coi họ như những kẻ ngu si!” Ông Aslan than.

Trong cuốn “German Abolishes Itself” tác giả Thilo Sarrazin cảnh báo là nước Ðức ngày nào đó sẽ biến mất, và dẫn chứng rằng nước Ðức “ngày càng nhỏ đi vì dân số ngày càng ít, càng già”, trong khi đó, người di dân, đa số là Thổ Nhĩ Kỳ và Arab, một giống dân “kém thông minh”, ngày càng sinh đẻ nhiều, không chịu tiến thân, và không chịu hội nhập vào xã hội Ðức.

Bằng giọng nói và cách trình bày đầy cảm xúc, đa số những khách (không phải là người Ðức) được mời đến thuyết trình trong các buổi hội thảo đều tâm sự là họ sinh ra và lớn lên ở Ðức, nói tiếng Ðức lưu loát, đã tốt nghiệp đại học Ðức, đều vẫn cảm thấy mình bị kỳ thị.

Lý do tại sao với một số người di dân đông đảo đến 16 triệu, mà dân Ðức đa số vẫn không chấp nhận người ngoại quốc, ông John Kornblum, cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Ðức trình bày là sau Thế Chiến Thứ II, Ðức có một thỏa thuận với chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ để đưa người lao động người Thổ (đa số theo đạo Hồi Giáo) vào Ðức làm việc.

“Lúc đó, ai cũng nghĩ rằng hết thời gian làm việc thì những người Thổ này sẽ về nước, vì thế truyền thống của dân Ðức là xem họ là những người chỉ tạm trú, luôn luôn ‘loại trừ’ họ, và không bao giờ nghĩ là họ sẽ định cư luôn ở đây!”

Các thành viên trong German Study Tour trong một buổi hội thảo về chính sách di dân tại trụ sở Quốc Hội Ðức, Berlin. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

Bà Consanze Stelzenmuller, thuộc tổ chức nghiên cứu “German Marshall Fund of the United States” phát biểu:

“Chính phủ Ðức từ một thập niên qua đã thấy rất rõ là họ cần người di dân, nhưng giữa điều chính quyền muốn và tâm lý của người dân Ðức là một khoảng cách rất xa!”

Nhấn mạnh sự khác biệt giữa cái nhìn của chính quyền và tâm lý quần chúng, bà nêu lên một thống kê tiêu biểu:

“Gần 58% người dân Ðức cho rằng quyền tự do tôn giáo của người Hồi Giáo ở nước Ðức cần phải bị giới hạn một cách đáng kể.”

Sự “ghẻ lạnh” và cảm giác bị phân biệt đối xử, khiến giới trẻ người Ðức gốc Thổ, giờ đây đã tốt nghiệp đại học, hay có tay nghề vững chắc, đang trở về Thổ Nhĩ Kỳ, nơi có nền kinh tế đang phát triển mạnh, hiện đang giang rộng đôi tay đón họ.

Một khó khăn khác trong việc thay đổi chính sách di dân đến từ quan điểm khác nhau của chính những viên chức chính phủ Ðức, cùng có trách nhiệm đẩy mạnh sự hội nhập của cộng đồng người Hồi Giáo vào nước Ðức. Chẳng hạn, trong khi Tiến Sĩ Gunilla Finke, tổng giám đốc chương trình Hội Nhập Di Trú đưa ra hình ảnh một quốc gia di dân Ðức, thì một viên chức khác làm việc tại Bộ Nội Vụ nói rằng “Thật ra chúng ta cũng chưa quyết định là một quốc gia di dân.”

Nguồn: Hà Giang/ Nguoiviet

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo