Thế giới

Châu Âu có thể học hỏi được gì từ cuộc khủng hoảng người tỵ nạn Việt nam ở Hồng Kông?

Cập nhật lúc 16-09-2015 11:24:04 (GMT+1)
Một trại tị nạn ở Hồng Kong

 

Thuyền nhân Việt nam đầu tiên đến Hồng Kông sau khi Sài Gòn sụp đổ vào năm 1975; các nhàchỉ trích nói rằng việc này vẫn còn ảnh hưởng đến chính sách địa phương đối với người tỵ nạn ngày nay.


Cuộc khủng hoảng người tỵ nạn đi đến bờ lục địa Âu châu bằng những chiếc thuyền tạm thời - với bộ quần áo ướt đẫm và hy vọng là những thứ duy nhất họ sở hữu - sẽ gợi lên những ký ức sống động cho nhiều người ở đây.

Quá tải

Gần bốn thập kỷ trước đây, đảo quốc này khi còn là một thuộc địa của Anh - đã trở thành một điểm đến của sự lựa chọn đầu tiên cho hàng chục ngàn người rời bỏ Việt Nam sau 20 năm kết thúc chiến tranh năm 1975 cùng với sự sụp đổ của Sài Gòn và chiến thắng Mỹ của cộng sản.

Hơn 230.000 " thuyền nhân Việt nam " đã đến Hồng Kông và đã đưa đến một loạt các trại trên toàn khắp Hồng Kông. Hàng trăm ngàn người khác lại là những người tỵ nạn ở Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan.

Nhóm đầu tiên đã đến Hồng Kông Tháng 5 năm 1975, và là dòng người tỵ nạn ban đầu - với 3.743 người- đã được tái định cư ở nước ngoài một năm sau đó. Tuy nhiên, những người đến sau phải đối mặt với một số phận kém may mắn hơn nhiều.

Mười lăm năm trước đây - vào ngày 21 Tháng Sáu năm 2000 – trại tỵ nạn cuối cùng đã đóng cửa, kết thúc một thời gian ba thập kỷ hỗn loạn đã để lại một di sản mà Hồng Kông đã chưa được đề cập đầy đủ, và điều ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách Hồng Kông cảm nhận và đối xử với những người tỵ nạn như thế nào.

Lúc đó Hồng Kông đã phải vật lộn với những tình huống khó xử như châu Âu đang trải qua ngày hôm nay. Cựu Viên chức Cục An ninh chính quyền Clinton Leeks, người phụ trách chính sách giam giữ, pháp luật và các trại tỵ nạn từ năm 1980 đến năm 1985 và sau đó làm nhiệm điều phối tỵ nạn từ năm 1990 đến 1992 – cho hay rằng lúc ấy có những thứ không thể thực hiện khác đi.

" Chúng tôi luôn biết đến các thuật ngữ danh tiếng mà chúng tôi ít có sự lựa chọn nhưng cố gắng đối xử một cách nhân đạo và cố gắng tìm một giải pháp cho người tỵ nạn," ông nhớ lại. "Thay vì đẩy tàu trở ra biển biển lại, chúng tôi đã chịu thiệt hại rất nhiều vào lúc mà Hồng Kông cần sự hỗ trợ và sự hiểu biết quốc tế " Ông Leeks tuyên bố với tờ Bưu điện Hoa nam.

Biện pháp đối phó

Một trong những biện pháp đầu tiên được thiết kế để ngăn cản thuyền nhân Việt nam ở tại Hồng Kông đước đưa ra năm 1982, khi chính phủ xây dựng các trại cấm trên các hòn đảo xa xôi hẻo lánh. Sau một vài năm tương đối yên tĩnh, số lượng người tỵ nạn tăng vọt trở lại như cuối những năm 1980.

Ban đầu, bất cứ ai chạy trốn Việt Nam trong trên các thuyền nhỏ đã được tự động cấp quy chế tỵ nạn trong khi chờ tái định cư ở một nước phương Tây. Nhưng vào tháng 6 năm 1988, chính quyền Hồng Kông đã giới thiệu một chính sách sàng lọc để phân biệt những người tị nạn hợp pháp với người di cư kinh tế.

Một năm sau đó, một "kế hoạch hành động toàn diện" đã được đưa ra sau khi được phê duyệt tại một hội nghị quốc tế tại Geneva. Theo kế hoạch, các cá nhân đã bị từ chối tỵ nạn đã được trả về nước. Tháng 12 năm 1989, "chương trình buộc hồi hương" đã được áp dụng.

Peter Barnes , một luật sư nhân quyền đã đến Hồng Kông vào đầu những năm 1990 để làm việc với Pam Baker - một luật sư tiên phong đã từng chiến đấu cho quyền của người tỵ nạn Việt nam- cho biết chính phủ Anh có thể xử lý tình huống rất khác biệt.

"Chính phủ có thể đã hiện công việc của họ một cách hợp lý trước," ông nói. " Sau năm 1988, họ cũng đã có thể thiết lập một hệ thống kiểm tra thích hợp . "

Các nhà phê bình mô tả quá trình sàng lọc là sự thiếu sót sâu sắc, chịu ảnh hưởng của vấn đề về dịch thuật và quan liêu. "Có một nhóm người bị đối xử một cách vô cùng bất công, có trường hợp đã không được lắng nghe đúng cách hoặc thậm chí tệ hơn dã bị xúc phạm bởi những quyết định được đưa ra", Barnes nhớ lại quá trình hồi hương.

Tuy nhiên ông Leeks cũng cho rằng “việc xét duyệt cũng sẽ không bao giờ hoàn hảo”, cho rằng hệ thống ấy đã tốt nhất như có thể. “Chúng tôi đã có một quá trình gồm ba giai đoạn làm việc với các viên chức di dân, sau đó là ban kháng cáo và tiếp theo và Cao Ủy Liên Hiệp Quốc Về Người Tỵ Nạn (UNHCR),” mà theo ông Leeks là nơi có kết luận cuối cùng.

Ông Barnes thừa nhận rằng khi các quốc gia phương Tây đã bắt đầu giảm tiến độ làm thủ tục tái định cư và đóng cửa, Hồng Kông phải vật lộn để đối phó với làn sóng tỵ nạn tràn vào. Tình trạng khó khăn của Hồng Kông đã dẫn đến một số các chính sách gây nhiều tranh cãi.

Áp lực

Áp lực công chúng để làm một điều gì đó về vấn đề này được quan tâm đến trong những năm qua. Một bức thư của một độc giả tên là Ng Yee-chun, được công bố trong các bài viết ngày 30 Tháng Tư 1994, kêu gọi chính phủ phải có hành động. "Vấn đề này phải nên được giải quyết và càng sớm thì càng tốt," Ng viết.

Hai năm sau, vào ngày 10 Tháng năm 1996, khi một cuộc bạo động lớn nổ ra tại một trung tâm như vậy, Tờ Bưu Điện đã có bài viết tuyên bố: " Bùng nổ, bạo loạn do oán giận chất chứa.

“Cảnh sát và các đơn vị cải huấn đã bắn hơn 2.000 hộp hơi cay trong một nỗ lực tuyệt vọng để làm nguội đi sự thất vọng và sợ hãi sôi sục ở Whitehead, một trung tâm giam giữ rộng 45 hecta gần Ma On Shan. Việc oán hận điều kiện ăn ở của người Việt sau những năm ở bên trong hàng dây thép gai, hy vọng tái định cư bị biến mất và những giấc mơ tan vỡ đã va chạm dữ dội với chính quyền Hồng Kông dưới áp lực của người dân địa phương ngày càng bất an.

"Khó khăn chính là Hồng Kông kiểm soát vấn đề được rất ít," ông Leeks nói. "Chúng tôi đã không kiểm soát được số người đến từ Việt Nam và không thể buộc các nước khác giúp đỡ. Những chỉ trích địa phương tăng cao nhưng có thể dễ hiểu về chính sách của chúng tôi cho phép người Việt Nam vào bò và chi phí để nuôi chứa họ là trái lại việc buộc người Trung quốc nhập cư trái phép phải trở lại Trung Quốc thậm chí cả khi họ có người thân ở Hồng Kông. "

Áp lực đối với chính phủ Anh đã tăng lên vào năm 1997 khi Hồng Kông được trao trả cho Bắc Kinh. Sau các cuộc bạo loạn ở Whitehead, Zhang Junsheng, một phó giám đốc của Tân Hoa xã đã cảnh báo rằng "vấn đề mãn tính" này đã gây ra một số vấn đề kinh tế và tâm lý nặng nề.

Nhiều người bị buộc phải trở về Việt Nam và một số sẵn sàng làm theo như vậy, chính quyền cuối cùng bắt đầu đóng cửa trại. Whitehead - lúc đỉnh điểm chứa đến 40.000 người - đã bị đóng cửa vào tháng Sáu năm 1997.

Những người tỵ nạn cuối cùng

Vào tháng 6 năm 1999, có ít thuyền tỵ nạn hơn và sự tăng cường hợp tác từ Việt Nam, tất cả các trại đã bị đóng ngoại trừ một nơi. Những người tị nạn còn lại - Bắc Việt, Nam Việt và Trung Quốc đại lục - đã tập trung ở Pillar Point, một trại mở bên ngoài Tuen Mun. Cư dân có thể để lại và làm việc trong ngày.

Từ năm 1975 cho đến năm 1999, hơn 140.000 người đã được tái định cư. Nhưng vào cuối những năm 1990 "sự mệt mỏi tái định cư" đã được thiết lập, giám đốc UNHCR Hồng Kông Terence Pike cho biết, theo một báo cáo được công bố cuối tháng 6 năm 1999.

Pike, người đảm nhận vị trí tại Hồng Kông ngay sau việc chuyển giao năm 1997, nhớ lại những khó khăn trong việc tái định cư người tỵ nạn bị mắc kẹt ở Hồng Kông. " Chúng tôi đã làm hết sức để yêu cầu các nước để tái định cư cho họ, nhưng rất khó khăn". Pike, hiện đang phụ trách văn phòng UNHCR tại Croatia cho biết. " Một số người trong số họ đã có hồ sơ hoặc các vấn đề ma túy hình sự."

Rõ rằng với nhiều người việc hội nhập vào xã hội địa phương sẽ là con đường tiến phía trước.

Trong tháng 2 năm 2000, 1.070 người tỵ nạn ở Pillar Point, chính phủ quyết định đóng cửa bằng cách cung cấp chứng minh thư. Ngày 21 tháng 6 năm 2000, 14 người tỵ nạn Việt nam cuối cùng rời Pillar Point, ba tuần sau ngày đóng cửa chính thức.

Regina Ip Lau Suk - yee, thư ký an ninh vào thời điểm đó nhớ lại: “Việc khép lại một chương sách thuyền nhân Việt nam gặp rắc rối Hồng Kông từ năm 1975, và chúng tôi đã thành công một cách êm ả.

" Tôi không biết về bất kỳ nghiên cứu nào... nhưng tôi nghĩ rằng hội nhập đã tiến hành khá tốt," Ip cho biết, dẫn ra các ví dụ về những người tham gia học trường địa phương và kết hôn với người dân ." Người Việt Nam ở lại đã đóng góp cho sự đa dạng văn hóa của các thành phố của chúng tôi, và họ đã trở thành một phần không thể thiếu của cộng đồng."

Nhưng một số vết thương vẫn còn mới. Cuộc khủng hoảng người tị nạn Việt nam làm Hồng Kông tốn 8,7 tỷ đô la Hồng Kông và UNHCR còn nợ Hồng Kông 1,16 tỷ đô la Hồng Kông.

Kinh nghiệm cho phương Tây

Luật sư Barnes tin kinh nghiệm "thuyền nhân" của Hồng Kông phản ánh lại tình trạng ngày nay.

"Tôi nghĩ rằng di sản của cuộc khủng hoảng người tỵ nạn là cách hiện tại mà họ [chính phủ] thỏa thuận với [người tỵ nạn]," ông nói. "Các trận chiến mà chúng tôi đã phải buộc họ làm để sàng lọc người tỵ nạn đã mất rất nhiều thời gian vì họ sợ sẽ có một loại sóng như đã xảy ra như thời của người Việt nam... Nỗi sợ hãi này vẫn còn rung động."

Trong năm 2013, Tòa án của phúc thẩm cuối cùng ra lệnh chính phủ sắp đặt một "cơ chế sàng lọc thống nhất" mới trong đó bao gồm cả việc người xin quy chế tỵ nạn cũng từng bị tra tấn. Trước đó, UNHCR đánh giá cứu xét tỵ nạn ở thành phố.

Một năm sau đó hệ thống mới có hiệu lực, nhưng các nhà phê bình nói rằng hệ thống vẫn còn thiếu sót lớn. Đối với Barnes, như trong thời kỳ Việt Nam, hệ thống sàng lọc mới được thiết kế để "thanh lọc người ta". "Đó cũng cùng một loại quyết định ngớ ngẩn, bất hợp lý và xúc phạm," ông nói.

Tháng Năm năm nay có 9.884 đơn xin cứu xét. Trong số 1.873 được xử lý, chỉ có tám đơn được sáng tỏ.

Mặc dù Hồng Kông đã có một lịch sử lâu dài về người tỵ nạn, quay trở lại thời gian khi mọi người trốn khỏi đại lục sau khi nước Cộng hòa Nhân dân thành lập vào năm 1949, Hồng Kông đã không ký Công ước năm 1951 của Liên Hợp Quốc về tình trạng người tỵ nạn.

Bỏ qua các chỉ trích của các nhà hoạt động nhân quyền sang một bên, ông Leeks đã không có nghi ngờ rằng cuộc khủng hoảng người tỵ nạn Việt "là một minh chứng tuyệt vời cho khả năng phục hồi cần thiết và khả năng chịu của con người. Hồng Kông cho thế giới thấy rằng những cuộc di cư khổng lồ có thể được xử lý một cách nhân đạo," ông nói.

http://www.scmp.com/news/hong-kong/article/1857873/how-europe-can-learn-hard-lessons-hong-kongs-vietnamese-refugee

Nguồn: ijavn.org

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo