Việt Nam

Ông Nguyễn Văn Bình: 'Đề nghị nói đúng nói trúng, chứ đừng nói hay'

Cập nhật lúc 27-08-2016 10:25:20 (GMT+1)
Trưởng ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình. Ảnh TH.

 

Một bản đề án về chính sách công nghiệp quốc gia đang được gấp rút hoàn thiện sau khi hai quyết định tổng thể phát triển công nghiệp được Thủ tướng ký cách đây hai năm.


Phát biểu tại buổi tọa đàm về chính sách công nghiệp ngày 25-8, Trưởng ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình thẳng thắn kêu gọi các nhà khoa học cần “nói đúng, nói trúng để làm thật”, chứ không phải “nói hay”, về thực trạng nền công nghiệp nước nhà.

Hai năm đã lạc hậu

Các ý kiến góp ý sẽ là cơ sở giúp Ban Kinh tế Trung ương hoàn thành Đề án về chính sách công nghiệp quốc gia trình Bộ Chính trị tháng 11 năm nay. Đề án này là nhiệm vụ nặng nề của ban để thay thế hai quyết định 879, và 880 về quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam đã được Thủ tướng ký ban hành hồi tháng 6-2014,

“Hai văn bản này còn nhiều bất cập, có nhiều nội dung không còn phù hợp với bối cảnh công nghiệp của Việt Nam và thế giới. Bộ Chính trị giao Ban xây dựng đề án công nghiệp quốc gia để làm căn cứ giúp Chính phủ rà soát chiến lược phát triển công nghiệp”, ông nói.

Thừa nhận mình cũng “có lỗi” khi đã đồng ý thông qua hai văn bản trên vào năm 2014 khi còn là thành viên Chính phủ cũ, ông Bình xin chưa trình bày quan điểm của ban tại cuộc tọa đàm, mà đề nghị các nhà khoa học nói thẳng, nói thật về chính sách công nghiệp của Việt Nam.

Ông Dương Đình Giám, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, người góp phần viết nội dung của hai quyết định 879 và 880 thừa nhận đã phải chịu nhiều sức ép lúc đó. “Chúng tôi gặp khó khăn khi làm chiến lược phát triển công nghiệp. Khi lựa chọn ngành ưu tiên, thì hầu như ngành nào cũng đòi được ưu tiên. Thế là rốt cuộc có tới 19 ngành mũi nhọn”, ông cho biết.

Giáo sư Kenichi Ohno, Trường Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản, người đã tham gia xây dựng hầu hết các chiến lược công nghiệp ở Việt Nam trong 20 năm qua nói: “Tôi có kinh nghiệm tham gia chính sách công nghiệp của 20 quốc gia châu Á và châu Phi. Tôi có thể khẳng định, chính sách của Việt Nam không tốt, ở nhóm cuối các quốc gia tôi công tác, thậm chí một số quốc gia châu Phi có chính sách công nghiệp tốt hơn Việt Nam. Tôi xin chia sẻ chân thành, thẳng thắn như vậy”.

Phê bình Việt Nam viết các bản chiến lược theo kiểu chương, hồi, thiếu sáng tạo, ông Ohno cho rằng Việt Nam chọn tới 19 ngành công nghiệp làm mũi nhọn là quá nhiều.

“Các bạn nên giới hạn còn 5 ngành ưu tiên thôi, chứ quá nhiều ngành ưu tiên nghĩa là chả có ưu tiên gì”, ông nói, và khuyên Thủ tướng nên tham dự thực hiện trực tiếp các chương trình công nghiệp hóa, thay vì chỉ phê duyệt. “Cách làm các chiến lược công nghiệp của Việt Nam chẳng có gì khác so với hồi tôi đến đây năm 1993”, ông nói tiếp.

Đây là lần thứ hai ông Ohno gặp trực tiếp Trưởng ban Kinh tế Trung ương. Trong lần gặp trước, ông đã khẳng khái nói: “Có bao nhiêu kiến nghị của tôi trong suốt 20 năm qua các ông không tiếp thu. Nay các ông gặp tôi làm gì nữa”.

Ông Bình cam kết là sẽ tiếp thu các kiến nghị của ông Ohno trong bản báo cáo lần này.

Công nghiệp ngày càng tụt hậu

Bà Lê Thanh Thảo, đại diện cho Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO) tại Việt Nam, cho biết Việt Nam thuộc những quốc gia có tiến bộ nhất về chỉ số cạnh tranh công nghiệp của tổ chức này, nhảy từ vị trí 94 năm 1990 lên vị trí 40 vào năm 2015 trong 200 quốc gia trên thế giới.

Song, đó là tin vui duy nhất. Tất cả ý kiến của các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia trong nước và quốc tế đều khẳng định, nền công nghiệp của Việt Nam đang ở dưới đáy theo đúng nghĩa sau hơn 30 năm đổi mới và mở cửa.

Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài than vãn: “Chúng ta có quá nhiều định hướng, và mục tiêu quá cao; các chính sách phát triển sản phẩm thì duy ý chí”.

Ông ví dụ, hiện nay Việt Nam chưa có năng lực sản xuất 1 kg thép chế tạo nào, mà lại đặt ra mục tiêu chế tạo được turbin, theo chiến lược phát triển ngành cơ khí.

“Nhiều người nói thẳng rằng, ngành công nghiệp ô tô của ta đã thất bại vì đặt ra mục tiêu cao quá”, ông bổ sung.

Ông cho biết, giá trị của ngành chế biến, chế tạo chiếm tới 90% giá trị sản xuất công nghiệp, nhưng chỉ đóng góp 13% GDP. Trong khi đó, ngành khai khoáng đóng góp chỉ 8% giá trị sản xuất công nghiệp, nhưng đóng góp tới 10% GDP.

“Nguyên nhân là công nghiệp hỗ trợ rất yếu, phải nhập khẩu mỗi năm 50 tỉ đô la tiền linh kiện, phụ tùng”, ông Hoài cắt nghĩa.

Theo ông Giám, Việt Nam đang gặp hàng loạt các thách thức để phát triển công nghiệp.

Về nguồn nhân lực, ông cho biết, trong tổng số 54,4 triệu người trong độ tuổi lao động, chỉ có 21% qua đào tạo. Đáng buồn là tỷ lệ người lao động qua đào tạo chỉ là 18% trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Về công nghệ, Việt Nam lạc hậu 2-3 thế hệ. Bên cạnh đó, trong tổng vốn đầu tư cho khoa học công nghệ, tới 90,6% thuộc về các doanh nghiệp FDI; 8,7% là của DNNN; và vỏn vẹn 0,67% thuộc về các doanh nghiệp ngoài nhà nước.

Bên cạnh đó, quy mô doanh nghiệp giảm từ 27 người năm 2007 xuống còn 18 người năm 2014. Tỷ lệ doanh nghiệp có vốn nhỏ tăng từ 77% năm 2012 lên 83% năm 2014.

“Đó là những con số rất đau lòng”, ông Giám nói.

Hệ điều hành cũ

Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh từ Chương trình Fulbright ví von, phương pháp xây dựng chiến lược công nghiệp của Việt Nam vẫn như một hệ điều hành cũ, dù thực trạng kinh tế đã khác. Ông giải thích, nguồn tri thức tham vấn vẫn chủ yếu từ DNNN, khu vực đóng góp 30% GDP nhưng chỉ 20% giá trị sản xuất công nghiệp.

“Có nghĩa là khu vực tư nhân đang đang đóng góp quan trọng nhất cho GDP và công nghiệp lại đang nằm ngoài vòng tham vấn”, ông giải thích.

Theo ông Tự Anh, các chính sách hiện tại đang hướng tới thu hút ngành công nghệ cao. Tuy nhiên, trong giỏ hàng xuất khẩu thì chỉ có 20% là xuất khẩu công nghệ cao.

Ông nói: “Ta phải phân biệt công nghệ cao và giá trị gia tăng cao. Samsung nhập khẩu tới 90% để sản xuất. Có nghĩa, trừ lương, chi phí đất đai, điện... thì giá trị gia tăng ở trên một đồng xuất khẩu chỉ có vài chục xu cho Việt Nam. Chúng ta không có phần giá trị gia tăng cho mình.

“Hàm lượng gia tăng rất quan trọng, và người nước ngoài hưởng hết, còn chúng ta chỉ cung cấp nhân công rẻ, môi trường rẻ cho họ. Chẳng hạn như Formosa”, ông Anh nói.

Ông Anh nhận xét, tình trạng các bộ cát cứ, chia mảnh là rất rõ ràng. Chẳng hạn ở Bộ Công Thương, cơ quan vừa đàm phán hội nhập, vừa phụ trách công nghiệp; nhưng chính sách trong hai lĩnh vực này không tương thích với nhau.

Ví dụ, nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn đang đòi bù lỗ hơn 75.000 tỉ đồng do việc giảm thuế khi hội nhập. “Đó là con số quá lớn so với bất kỳ một dự án công nghiệp nào… Ngay trong một bộ đã thiếu sự phối hợp rồi, chưa nói các bộ khác nhau”, ông nói.

Ông nói thêm: “Nay ta đã hội nhập hoàn toàn, khó có thể hội nhập hơn nữa. Sân chơi đã mở bung ra rồi, nhưng hội nhập của chúng ta đã đi trước quá trình đổi mới bên trong. Khi chúng ta mở cửa ra với quốc tế, chúng ta lại không đủ năng lực. Tôi cho rằng có làn sóng doanh nghiệp sẽ mất đi khỏi thị trường trong vài năm tới khi chúng ta thực hiện tất cả các cam kết”.

Lấy ví dụ, thịt gà Mỹ rẻ hơn Việt Nam 20%, ông Tự Anh cho rằng, công ăn việc làm sẽ mất đi. “Điều đó sẽ kéo theo các vấn đề xã hội”, ông cảnh báo.

Nguồn: Tư Giang/ thesaigontimes.vn

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo