Sự kiện

'Đường lưỡi bò' phi lý trên Biển Đông (P.1)

Cập nhật lúc 15-09-2009 12:33:58 (GMT+1)
Bản đồ khu vực Biển Đông

 

Gần đây, Trưởng đoàn đại diện Chính phủ nước ta vừa trình báo cáo quốc gia trước Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc về xác định ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý tại khu vực phía Bắc Biển Đông. Bản báo cáo này một lần nữa khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết mọi bất đồng liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước 1982 và Tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông (DOC).


Những lập luận mâu thuẫn của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa

Trước đó, vào tháng 5/2009, Việt Nam và Malaysia đã gửi Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc các hồ sơ đăng ký riêng và chung về khu vực thềm lục địa liên quan đến hai nước. Tuy nhiên, phía Trung Quốc đã gửi công hàm tới Tổng thư ký Liên hiệp quốc phản đối các bản báo cáo này và gửi kèm theo một sơ đồ biên giới “đường lưỡi bò” khẳng định 80% diện tích Biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Yêu sách này hết sức phi lý, đã “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông”, khiến dư luận bất bình. Nhằm giúp thông tin đầy đủ và chính xác tới bạn đọc các dữ liệu lịch sử và khoa học về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, xin đăng tải một số bài viết theo quan điểm của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý và lịch sử xung quanh vấn đề này.

Là người chuyên nghiên cứu về chủ quyền quốc gia Việt Nam trên vùng biển Đông và hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc nhấn mạnh: “Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng của mỗi dân tộc. Biên giới của mỗi quốc gia là biểu hiện của nền độc lập dân tộc bất khả xâm phạm của quốc gia đó”. Từ các kết quả nghiên cứu của mình, ông khẳng định: “Vào thời điểm 1909, pháp lý quốc tế có giá trị phổ biến là Tuyên bố của Viện Pháp Luật Quốc Tế Lausanne năm 1888. Sau đó Hiến Chương Liên hiệp quốc và Luật Biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý quốc tế mà các thành viên ký kết bao gồm các nước đang vi phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei đều phải tôn trọng. Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đến 75% diện tích ở biển Đông trong nhiều thập niên trước đây cũng như đơn phương quyết định đặt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trực thuộc hệ thống hành chính của mình, đã đi xa hơn một cuộc tranh chấp trên biển, trở thành một hành động xâm chiếm vùng biển, xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bất chấp hiến chương Liên Hiệp quốc”.

Quan điểm “tự mâu thuẫn nhau”

Ông Phúc đã hệ thống hóa các lập luận về chủ quyền trên Biển Đông và đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo quan điểm của Trung Quốc. Đó là:  Giới truyền thông Trung Quốc cho rằng, Trung Quốc là nước phát hiện và đặt tên sớm nhất cho quần đảo Nam Sa (Trường Sa), đồng thời cũng là nước thực thi chủ quyền sớm nhất và bền vững nhất đối với quần đảo Nam Sa; Việc này đã được chứng minh bằng lịch sử và căn cứ pháp lý đầy đủ, nhận được sự công nhận lâu dài của cộng đồng quốc tế; Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc, chiếm đóng phần lớn khu vực của Trung Quốc, trong đó kể cả quần đảo Nam Sa; “Tuyên bố Cai-rô” và “Thông cáo Potsdam” cùng các văn kiện quốc tế khác đã quy định rõ việc trao trả lại lãnh thổ cho Trung Quốc từng bị Nhật cướp đoạt năm xưa, dĩ nhiên trong đó kể cả quần đảo Nam Sa.

Tháng 12 năm 1956, Chính phủ Trung Quốc lúc bấy giờ đã chỉ định quan chức cấp cao tiếp quản quần đảo Nam Sa, đồng thời đã tổ chức lễ bàn giao trên đảo, cắm mốc kỷ niệm và cử quân đội đến đóng tại quần đảo Nam Sa; Năm 1952, Chính phủ Nhật Bản chính thức bày tỏ “từ bỏ tất cả mọi quyền lợi, danh nghĩa và yêu sách về quyền lợi đối với Đài Loan, các hòn đảo Bành Hồ và quần đảo Nam Sa”, từ đó quần đảo Nam Sa đã chính thức trở về với Trung Quốc... Trước thập niên 70 thế kỷ XX, các nước Philipines, Malaysia... không có bất cứ văn bản pháp luật và bài phát biểu của nhà lãnh đạo nào nói đến phạm vi lãnh thổ nước họ bao gồm quần đảo Nam Sa; Nghị quyết của chính phủ nhiều nước và cộng đồng quốc tế cũng công nhận quần đảo Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc; Bản đồ do nhiều nước xuất bản cũng ghi rõ quần đảo Nam Sa thuộc về Trung Quốc, trong đó có “Tập bản đồ mới Thế giới” do Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Ohira Masayoshi đề nghị xuất bản vào năm 1962, bản đồ thế giới do Việt Nam lần lượt xuất bản vào năm 1960 và năm 1972...

Thế nhưng, sự thật lịch sử có đúng như vậy không? Theo nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, cần phân tích hai vấn đề:

Vấn đề thứ nhất, lập luận “Trung Quốc là nước phát hiện và đặt tên sớm nhất cho quần đảo Nam Sa (Trường Sa), đồng thời cũng là nước thực thi chủ quyền sớm nhất và bền vững nhất đối với quần đảo Nam Sa (?). Việc này đã được chứng minh bằng lịch sử và căn cứ pháp lý đầy đủ, nhận được sự công nhận lâu dài của cộng đồng quốc tế” là dựa trên cơ sở nào?  Trước hết, về tên gọi chỉ khu vực Biển Đông ở Đông Nam Á giữa các nước lại không thống nhất: Việt Nam gọi là Biển Đông, Trung Quốc gọi là Nam Hải và tên gọi quốc tế lại là Biển Nam Trung Hoa (South China sea).

Nhà Nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho rằng, những cách gọi này rất dễ gây ra ngộ nhận về vấn đề chủ quyền quốc gia ở Biển Đông. Qua khảo sát, tổng cộng 20.713 bản đồ trong nước và quốc tế, ông Phúc khẳng định: bản đồ sớm nhất có chú thích vùng Biển Đông của khu vực Đông Nam Á là bản đồ miêu tả khu vực đảo Hải Nam của Trung Quốc vào đời nhà Đường (618-907) của Đại học California được ghi là biển Giao Chỉ (Chiao-chih Ocean). Còn bản đồ liên quan đến Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam sớm nhất là bản đồ được xuất bản từ năm 1575 cho đến bản đồ được xuất bản trước năm 1814, khu vực biển Đông không được một tác giả nào ghi chú cả.

Như vậy là tên gọi Biển Đông của người Việt Nam đã có từ trước. Trong các từ điển cổ của Trung Quốc cũng xác định không giống nhau về nguồn gốc tên gọi Nam Hải. Thậm chí, không rõ căn cứ vào sử liệu nào, Từ Nguyên Cải Biên Bản đã ghi thêm có thời Nam Hải đã bao quát cả Ấn Độ Dương. Từ các chứng cứ lịch sử này, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc khẳng định: “Chắc chắn là các soạn giả Trung Quốc đã lợi dụng các danh xưng Pháp Mer de Chine (Méridionale) và danh xưng Mỹ, Anh (South China Sea). Cả ba danh xưng này có một điểm chung là thiếu minh xác khiến có thể hiểu là biển của Trung Quốc ở về phía Nam. Theo ý kiến chúng tôi, giới hạn Nam Hải của Trung Quốc xưa, chỉ đến ngang đảo Hải Nam như chính danh xưng đảo Hải Nam chỉ rõ như vậy”.

Mặt khác, theo quy định của Ủy ban quốc tế về Biển, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc đưa ra các tranh luận:

Một là: Biển rìa ở khu vực Đông Nam Á là biển Đông chưa bao giờ được người Trung Quốc phát hiện ra. Mà ngược lại, Việt Nam là một quốc gia ven bờ biển Đông, nên ngay từ xa xưa người Việt đã biết sử dụng biển để phục vụ cho cuộc sống sinh cơ lập nghiệp và bảo vệ tổ quốc, đồng thời giao lưu kinh tế văn hóa với nước ngoài. Nghề biển là một nghề truyền thống của người Việt đã đi vào truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ. Tục xâm mình mỗi khi xuống biển và thủy chiến là sở trường của Việt Nam từ xưa đến nay. Biển Đông cũng đã đi vào ca dao tục ngữ và còn truyền miệng cho đến ngày nay. Trên trống đồng Đông Sơn, biểu tượng của nền văn hóa biển vẫn còn đó. Trống đồng Đông Sơn cũng đã có mặt ở hầu hết các nước trong khu vực.

Hai là: Biển rìa thường dựa vào địa danh của lục địa lớn nhất, gần nhất. Với nội dung này, trong tình hình hiện nay dễ gây ra ngộ nhận vì tên quốc tế của biển Đông là South China Sea làm cho mọi người lầm tưởng khu vực biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Quốc vì vào năm 1983 Trung Quốc cho vẽ lại bản đồ lãnh hải của nước CHND Trung Hoa mở rộng khu vực, bao gồm bờ biển Philippines, Tây giáp bờ biển Malaysia mà họ gọi đó là “miền Đông hải” của Trung Quốc. Dư luận quốc tế cần thấy rõ biển Nam Trung Hoa theo quy định quốc tế là không đồng nghĩa với cái gọi là “miền Đông Hải” của Trung Quốc.

Ba là: quy định của Ủy ban quốc tế về Biển của Liên hiệp quốc  như trên không có nghĩa là các biển rìa không thể không có tên khác. Đối với biển Đông, có tên là biển Trung Hoa hoặc biển Nam Trung Hoa là do hiểu biết chưa đầy đủ về lịch sử vùng biển này của các nhà hàng hải phương Tây lúc họ đi qua và gọi tên, dẫn đến sau này người ta quen sử dụng chứ không hề có ý nghĩa là vùng biển của Trung Quốc. Đối với một số biển rìa khác, người ta cũng không nhất định phải đặt theo địa danh lục địa lớn nhất, gần nhất như trường hợp biển Nhật Bản theo cách gọi của người Nhật hay biển Đông hoặc biển Korea theo cách gọi của Hàn Quốc mà quốc tế đã bước đầu công nhận.

Ở đây chúng ta phải nhắc lại trường hợp của Philippines. Bờ biển phía Tây của quần đảo này không lấy tên là South China Sea mà được Philippines đặt tên là biển Luzón (Luzón Sea) vì Philippines phản đối việc tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông. Quan điểm và lập trường của Philippines trong trường hợp này cho đến nay đã được quốc tế thừa nhận.

Bốn là: đấu tranh để đổi lại tên gọi “biển Nam Trung Hoa” là một vấn đề cần thiết vì tương lai đấu tranh cho chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứ không chỉ là đổi tên cho phù hợp với vị trí địa lý hay cách gọi của người Việt Nam.

Vấn đề thứ hai, về các lập luận của Trung Quốc căn cứ vào “Tuyên bố Cai-rô” và “Thông cáo Potsdam” cùng các văn kiện quốc tế khác quy định việc trao trả lại lãnh thổ cho Trung Quốc từng bị Nhật cướp đoạt năm xưa, dĩ nhiên trong đó kể cả quần đảo Nam Sa. Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc khẳng định, những luận cứ và luận chứng trên của Trung Quốc là không chính xác. Ông cho rằng, vào năm 1945 Nhật Bản đã bị các nước Ðồng minh đánh bại trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương nên phải đầu hàng. Một trong những việc nước này phải làm khi đầu hàng là từ bỏ các đất đai ở ngoại quốc mà Nhật Bản đã chiếm được trong thời kỳ toàn thịnh của chế độ quân phiệt, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chứ không có nghĩa rằng nó thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Mặt khác, vào năm 1938, trước khi xảy ra Chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản đã chiếm đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, nói là để khai thác thương mại nhưng thực ra chính là để lập căn cứ chiến lược làm bàn đạp tấn công vùng Ðông Nam Á.

Đối với Tuyên cáo Cairo do 3 nước Hoa Kỳ, Anh và  chính quyền Trung Hoa Dân Quốc ký kết ngày 26-11-1943 cũng chỉ xác định các đất Mãn Châu, Ðài Loan và Bành Hồ được hoàn trả cho Trung Quốc. Tuyên cáo Cairo đã không nói các lãnh thổ khác (trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa) phải được hoàn trả cho nước nào. Đối với Tuyên ngôn Potsdam năm 1945 về việc ấn định các điều kiện cho Nhật Bản đầu hàng cũng hoàn toàn không đề cập tới vấn đề hoàn trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Nhật Bản đã xâm lược vào đầu Chiến tranh thế giới thứ 2. Lẽ dĩ nhiên là các cường quốc đã không cho rằng hai quần đảo này là phần lãnh thổ của Trung Quốc. Ðiểm đặc biệt đáng chú ý hơn nữa là chính Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc - Tưởng Giới Thạch, đã tham dự cả hai hội nghị và đã ký vào cả Tuyên cáo Cairo lẫn Tuyên ngôn Potsdam. Nếu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thực sự thuộc chủ quyền của Trung Quốc thì không có lý gì  đại diện Trung Hoa Dân Quốc chỉ đòi hoàn trả có Mãn Châu, Ðài Loan và Bành Hồ thôi mà lại không đòi luôn Hoàng Sa và Trường Sa. Hơn nữa, trong bản văn của Tuyên cáo Cairo và Tuyên ngôn Potsdam chúng ta cũng không thấy từ “vân vân”để có thể nói là vấn đề đã được bao hàm trong hai văn kiện này.

Từ tất cả các căn cứ khoa học và lịch sử nêu trên, Nhà Nghiên cứu Đinh Kim Phúc khẳng Định: “vấn đề trên là quá rõ ràng, những luận cứ và luận chứng mà Trung Quốc đưa ra trong vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam không thể phủ nhận được các văn kiện của Bản Tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, bản Tuyên ngôn Potsdam và sự thật lịch sử”.

Giải quyết tranh chấp như thế nào?

Về vấn đề giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho rằng: khi giải quyết bất kỳ vấn đề gì liên quan đến biên giới và lãnh thổ, chúng ta phải biết kết hợp các hình thức và biện pháp đấu tranh thích hợp đối với từng vụ việc phát sinh trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, giữ gìn quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Riêng đối với vấn đề thực tế có nhiều cách gọi khác nhau về Biển Đông: nước ta gọi là biển Đông, còn các văn bản quốc tế và bản đồ tiếng nước ngoài thì gọi là biển Nam Trung Hoa, nhà Nghiên cứu Đinh Kim Phúc cho rằng: vấn đề đặt ra là một mặt chúng ta phải vận động để cộng đồng quốc tế hiểu rằng biển Nam Trung Hoa là tên gọi chứ không phải là thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Mặt khác, trong những điều kiện có thể làm được chúng ta nên tiến hành đấu tranh về mặt luật pháp quốc tế ngay từ bây giờ để có thể đổi tên biển Nam Trung Hoa thành một tên gọi khác hợp lý hơn trong các quan hệ quốc tế.

Còn tiếp...

Theo DDK

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo