Người Việt khắp nơi

Thuyền nhân Việt Nam: Chuyện chưa kể

Cập nhật lúc 03-05-2017 09:17:54 (GMT+1)
Ảnh: Internet

 

Khi tôi được mời đến buổi gặp mặt của những người tị nạn Việt Nam tại Sài Gòn, tôi đã nghĩ rằng đấy là một buổi ăn trưa của những người cực kì thành công trên đất khách quê người. Đó là những người đã chạy khỏi Việt Nam sau khi Sài Gòn thất thủ, những người đã liều mạng mình trên những tàu cá ọp ẹp để thoát khỏi sự trả thù về chính trị và kinh tế. Tôi đã hy vọng rằng mình sẽ có cơ hội thu thập được những giai thoại thành công của họ trên đất Mỹ, Canada, Úc, và rất nhiều quốc gia khác đã tiếp nhận người tị nạn. Nhưng hóa ra mọi chuyện không như vậy. Không phải người tị nạn nào cũng tìm được nơi ở mới. Cuộc hội ngộ sau hai mươi mấy năm này là của những người đã bị từ chối cho tị nạn và bị đưa trở về Việt Nam.


Phần lớn những người thuộc làn sóng tị nạn đầu tiên đều được các quốc gia khác tiếp nhận. Có điều, đến cuối những năm 1980, khi số lượng người tị nạn vẫn không ngừng tăng, nguồn tài nguyên bắt đầu cạn kiệt, các quốc gia tiếp nhận thay đổi chính sách, thì Ủy ban Tị nạn Liên Hợp Quốc đã ban hành những điều luật mới nhằm hẹn chế số lượng thuyền nhân. Những quá trình sàng lọc mới được thiết kế nhằm phân biệt những người tị nạn chính trị và tị nạn kinh tế. Điều này có nghĩa là rất nhiều người đã bị buộc phải hồi hương. Quá trình sàng lọc này còn vướng vào tham nhũng và hối lộ, đặc biệt là sau khi Cao Ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn bỏ quyền kiểm soát ở các cơ quan địa phương tại Indonesia. Đến giữa những năm 1990, trại của người tị nạn có nguy cơ bị giải tán, nên nhiều người đã tổ chức biểu tình và bị tống giam. Đến năm 1996, trại tị nạn Galang, một trong những trại lớn nhất tại Indonesia, bị đóng cửa và nhiều người, hoặc là tình nguyện hoặc bị ép buộc, đã quay trở về Việt Nam.

Và dưới đây là câu chuyện của những người đó.

Chuyện của Chanh:

Khi tôi đang không hiểu chuyện gì xảy ra thì đã thấy mình đứng giữa một cái chợ đông đúc tại Sài Gòn. Tôi không biết chắc mình đang ở đâu vì địa chỉ và số nhà ở Việt Nam thường khá là lộn xộn. Nhưng, Chanh bất ngờ xuất hiện, cầm trên tay một túi bánh mì và chỉ vào một con hẻm bé tí hin. Tôi bước ngang qua ngôi nhà tồi tàn của ông mà không hề nhận ra đấy là một ngôi nhà. Lồng gà vứt chỏng chơ khắp lối ra vào căn phòng, thậm chí còn ở dưới bồn rửa và cái bếp lò. Một chú mèo bé con con kêu ngoao ngoao khi chúng tôi nhìn lướt qua những bức ảnh chụp Chanh trong những ngày ông ở Galang.

Trước chuyến đi lênh đênh trên biển, ông Chanh là một người vạm vỡ đang làm trong ngành xây dựng và không có ý định rời khỏi Việt Nam. Nhưng anh trai ông đã lên kế hoạch cho chuyến đi và nhờ ông giúp những người khác lên thuyền trốn khỏi Việt Nam. Không suy nghĩ gì nhiều, ông đồng ý lên thuyền và đã trải qua một hành trình đầy khắc nghiệt. Lúc đó trên thuyền chỉ có đúng hai can nước sạch, còn lại toàn là dầu. Khi nguồn nước cạn sạch, không còn cách nào khác, ông đành phải uống nước tiểu của mình để cầm cự. Nhưng đó mới chỉ là trải nghiệm khắc nghiệt đầu tiên của rất nhiều người tị nạn.

Khi ở trên đảo, ông đã làm bất cứ việc gì để có thể sinh tồn, kể cả làm nông và xây dựng. Ông thậm chí còn nuôi cả gà chọi, nhưng về sau đã bị chính quyền cấm cản. Vào một ngày, chính quyền đến và buộc ông tội giết người. Ông bị bỏ tù hai tháng và khi được thả ra, bạn gái ông đã hẹn hò với người khác. Trước những biến cố quá đau thương xảy đến với mình, ông đã tuyệt vọng đến nỗi tự chặt ngón tay mình. Sau khi tạm thời được gắn lại, thì vết thương kinh khủng đến nỗi chẳng còn ai muốn phẫu thuật cho nó nữa. Ông đành phải nhờ đến một người bạn giúp mình chặt bỏ phần còn lại của ngón tay và khâu vết thương lại để tránh nhiễm trùng. Sau bốn năm sống như vậy trên đảo, cuối cùng ông đã tự nguyện ký vào giấy đồng ý trở lại Việt Nam.

Trên đường trở về Việt Nam, phía Liên Hợp Quốc đã cung cấp một vài khóa huấn luyện nghề nghiệp và ông Chanh đã quyết định học mọi thứ từ lái xe cho đến làm cơ khí. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ có cơ hội được gắn bó với cái nào quá lâu và trong suốt 20 năm qua, ông chỉ quanh quẩn làm thợ xây và nuôi gà. Mặc dù sống trong cảnh khổ sở như vậy, nhưng ông Chanh vẫn tin rằng quyết định trở về Việt Nam của ông không hề sai lầm. Trong khi nói chuyện, ông Chanh chứng minh rằng ông hoàn toàn hạnh phúc với cuộc sống đơn giản hiện tại. Chiếc iPad mới mua đã giúp ông có thể kết nối với bạn bè cũ ở Galang, giúp ông học những điệu nhảy mà ông rất vui được khoe với mọi người trong buổi gặp mặt.

Chuyện của Phương:

Khi tôi đang ngồi trên chuyến xe bus từ Phnom Penh đến Sài Gòn thì Phương bất ngờ ngồi xuống bên cạnh tôi. Khi nhận ra tôi đang gặp chút vấn đề với chiếc điện thoại (lúc đó tôi không đeo kính), bà đã đề nghị giúp đỡ. Và chúng tôi đã bắt đầu cuộc trò chuyện kéo dài 7 tiếng đồng hồ sau đó. Sau đấy vài tuần, tôi gặp liên lạc với bà và tôi được dẫn đi thăm nơi bà từng sinh sống.

Sau năm 1975, mẹ của bà và hai người chị em, giống như rất nhiều người Việt Nam khác tại thời điểm đó, tự nhiên lâm vào cảnh nghèo túng. Vì không có tiền nên họ đành phải ngủ ngoài bậc thềm của nhà thờ. Trong suốt nhiều năm, bà phải làm đủ mọi nghề, kể cả phải lội xuống bùn để cắt mây tre. Khi chồng bà vướng vào vòng lao lý, bà đã bán chiếc xe máy của chồng đi để mua vé tàu. Bà đi cùng người em gái đến Galang, nơi bà sinh người con trai. Mặc dù là thuyền nhân nhưng bà Phương đã không vượt qua được quá trình sàng lọc. Nhưng may mắn là khi giấy phép lao động của em gái bà được chấp nhận thì phía Phần Lan đã chấp nhận bà.

Vài tháng sau, bà Phương được yêu cầu phải tài trợ để trở thành người giám hộ cho em gái, tuy nhiên, nếu bà Phương rời khỏi Indonesia thì mẹ bà và hai người chị em kia còn ở Việt Nam sẽ không thể được chấp nhận tị nạn ở nơi khác. Còn nếu bà quay về Việt Nam thì cả gia đình bà sẽ được tài trợ. Cuối cùng, bà quyết định giúp gia đình mình và sáu tháng sau, bà bị bỏ lại một mình ở Việt Nam làm mẹ đơn thân. Bà phải làm đủ mọi nghề để kiếm sống, kể cả trốn lủi trong vườn bách thú Sài Gòn để bán thuốc lá. Những khó khăn và hoạn nạn trong cuộc đời bà rất nhiều và vẫn còn tiếp tục cho đến ngày hôm nay, và tôi chỉ có thể làm được chút ít trong suốt cuộc hành trình của bà với vài đoạn viết ngắn ngủi này.

Chuyện của Phong:

Lần đầu gặp vợ chồng ông Phong, họ đã quý mến tôi ngay lập tức và mời tôi về nhà chơi. Họ cười đùa với nhau về chuyện họ là những người cuối cùng rời khỏi Galang. Hai người gặp nhau tại một làng chài gần Vũng Tàu. Trước đó, ông Phong được một gia đình ở miền Nam Việt Nam nhận nuôi. Sau cuộc chiến tranh, cả gia đình phải trải qua rất nhiều khó khăn cả về kinh tế lẫn chính trị. Về sau này, ông làm thủy thủ không công trên tàu với hy vọng sẽ tìm được cơ hội chạy trốn. Với xuất thân như vậy, cuộc đời ông đã không ít lần trải qua những chuyện quái gở kể từ khi chế độ thay đổi. Thậm chí khi con gái ông ra đời, ông không thể đứng tên giấy khai sinh cho con mình mà phải nhờ một người bạn làm thay.

Cuối cùng, cơ hội chạy trốn đã đến. Cả gia đình ông gồm hai vợ chồng và hai đứa con đã phải sống trong hoàn cảnh thiếu thốn đủ bề trên hòn đảo. Khu lán trại chỉ gồm những ngôi nhà tạm bợ, không có chút riêng tư gì, mà chỉ có vài tấm ván gỗ ghép lại. Về sau, ông Phong và vợ đã cố mua được một cái lều và cả gia đình chuyển vào đó ở.

Sau bốn năm sinh sống trên đảo, họ bị chối cho tị nạn. hai vợ chồng ông Phong tham gia các cuộc biểu tình phản đối, liên tục tuyệt thực và tọa kháng. Hai người thậm chí còn cố tự thiêu để phản đối điều kiện sinh hoạt tồi tệ. Cuối cùng, quân đội Indonesia đến và bắt giữ những nhân vật chủ chốt của cuộc biểu tình. Vợ ông Phong là một trong số đó.

Ông Phong đoàn tụ cùng vợ mình trên đảo Pinang, nơi cả gia đình đã sống hai năm ở trong tù. Vợ ông còn phải trèo lên mái nhà rồi lang thang xuống phố và buổi đêm để xin chút thức ăn cho gia đình. Bà vẫn nhớ những người Trung Quốc và Indonesia đã hào phóng với bà thế nào. Cuối cùng, cả gia đình bị buộc quay về Việt Nam.

Cho đến nay, ông Phong cho rằng việc trở về này đã ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của ông. Kế sinh nhai của ông là bán bất cứ thứ gì ông thu được từ các khu chợ. Hai vợ chồng ông Phong có cảm giác rằng quá khứ vẫn ám ảnh họ, khiến họ không thể làm được những điều bình thường như bao người khác, ví dụ như bán đất chẳng hạn.

Chuyện của Thuc:

Khi ông Thuc đi đến bàn tôi đang ngồi ở buổi gặp mặt những người tị nạn, mọi người xung quanh tôi lập tức nhận ra ông ấy là ai. Có người thì thầm với tôi rằng ông ấy là một trong bai người đã phản đối quá trình sàng lọc bằng việc tự đâm chính mình. Lúc đó tôi không hiểu đấy là gì cho đến khi ông kéo áo lên cho tôi xem mà không hề do dự.

Vài ngày sau, Thuc đưa tôi đến thăm nhà của ông. Tôi phải kinh ngạc thừa nhận rằng đấy là một trong những ngôi nhà to nhất tôi từng thấy ở Việt Nam. Dù thời gian đã trôi đi rất lâu kể từ lúc ông ở Galang nhưng ông vẫn mang trong mình những ký tức nặng nề. Sau khi cha ông trở về từ trại cải tạo, ông có cơ hội được sang Mỹ vì đã từng phục vụ trong quân đội Mỹ. Cha ông từ chối di cư nhưng ông Thuc vẫn quyết tâm đi. Công việc làm bún phở mì của ông đã hạn chế ông rất nhiều, dù ông đã tìm cách trốn thoát nhiều lần nhưng vẫn bị bắt và đưa trở về nhà.

Sau không biết bao nhiêu cố gắng, ông Thuc đã lên thuyền, nơi ông chứng kiến mọi người bị đối xử bất công thế nào khi liên quan đến chuyện miếng cơm manh áo. Ông nhận ra rằng thủy thủ đoàn nhận được nhiều phần củ đậu có dinh dưỡng và nhiều nước ngọt hơn so với ông và những người khác. Mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn khi một người đàn ông mang theo kiếm lên thuyền dọa sẽ cho lật thuyền nếu tình hình không được cải thiện. May mắn thay, sau đêm thứ hai, một con thuyền của Panama đang trên đường đến Hà Lan đã nhận chở họ. Điều này rất hiếm khi xảy ra bởi sau khi thế giới thay đổi chính sách đối với thuyền nhân, phần lớn tàu thuyền đều không nhận chở người tị nạn. Thuyền trưởng tàu đó đưa ra lựa chọn hoặc là họ sẽ theo đoàn đến Hà Lan hoặc sẽ bị đưa đến Galang. Lúc đó ông Thức tuyệt vọng đến mức muốn đến bất cứ đâu miễn là thoát khỏi cảnh khốn khổ này, nhưng phần lớn những người tị nạn cùng đoàn muốn đến nơi mà họ biết là người thân đang đợi họ. Nhưng ngay khi đặt chân đến đất Malaysia, những người đó lập tức hối hận về quyết định của họ.

Vài năm sau, ông Thuc không vượt qua được vòng sàng lọc dù ông có đủ giấy tờ chứng minh cha ông từng phục vụ trong quân đội thời chiến tranh, đảm bảo ông sẽ nhận được tư cách tị nạn. Nhưng người phỏng vấn ông là một quan chức Indonesia, không tin những điều ông nói và cho rằng giấy tờ của ông là giả mạo.

Theo ông Thuc, khi Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn chuyển giao toàn bộ quyền quyết định cho giới chức Indonesia, thì những người này có thể trao cơ hội tái định cư cho bất cứ ai họ muốn, miễn là họ không vượt quá hạn ngạch. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều phụ nữ Việt Nam chấp nhận gần gũi với quan chức hoặc hối lộ họ để được vé chấp nhận tị nạn. Tấm vé giá 1,000USD nhanh chóng được hét lên với giá 10,000USD. Dĩ nhiên ông Thuc không có nổi số tiền đó, nên để phản đối tình trạng này, ông cùng hai người khác đã tự đâm mình, cầm trong tay lá thư gửi đến một Giám mục từ Vatican đến thăm vào thời điểm đó. Không may là ông chưa bao giờ đặt chân được đến nhà thờ nơi vị Giám mục ở vì đi được nửa đường thì an ninh đã vây chặt lấy ông. Sau đó, ông bị chuyển đến một hòn đảo khác để làm phẫu thuật. Tại đây người ta phát hiện ra rằng con dao đã cắm quá sâu dẫn đến lá gan bị thủng. Cuối cùng, ông Thuc đồng ý trở lại Việt Nam vì ông nhận ra rằng, ông chỉ còn đường chết nếu tiếp tục ở trong trại.

Ngày mà ông trở về Việt Nam cũng là ngày mà rất nhiều bà con Việt kiều trở về bởi Tết Nguyên đán đã cận kề. Khi nhóm của ông Thuc về đến nơi, một nhân viên xuất nhập cảnh yêu cầu họ đứng sang một bên để nhường lối cho bà con Việt kiều, những người được xem là người yêu nước. Thật mỉa mai khi nhận ra rằng những người bỏ trốn thành công thì được xem là anh hùng còn những người bỏ trốn không thành công thì bị coi là kẻ phản quốc.

Cho đến tận bây giờ, ông Thuc vẫn ấp ủ trong mình niềm mong ước được ra nước ngoài. Tôi thấy cực kì ngạc nhiên bởi rõ ràng ông đang có cuộc sống tốt hơn rất nhiều so với những người Việt Nam khác. Ông có thu nhập ổn định và gia đình hòa thuận, nhưng ông lại không hề cảm thấy thoải mái. Khi tôi hỏi ông tại sao ông lại cảm thấy như thế, ông trả lời rằng già đình ông đã mất mát quá nhiều nên ông không bao giờ còn có cảm xúc với những gì ông thấy nữa. Điều quan trọng với ông không phải là giàu hay nghèo, mà là được sống thoải mái.

Trên đây chỉ là một phần rất nhỏ trong số các câu chuyện về các mảnh đời, gáng nặng và cả trải nghiệm mà người Việt Nam và tất cả người tị nạn vẫn luôn mang theo. Đối với họ, quá khứ sẽ không bao giờ bị lãng quên, nhưng nếu không ai ghi chép lại thì những câu chuyện hay trải nghiệm của họ sẽ bị lãng quên mãi mãi. Người tị nạn Việt Nam đã hòa nhập rất tốt với nền văn hóa Mỹ. Phở và bánh mì được bày bán tại khắp các thành phố lớn. Câu chuyện thành công của những người Việt tị nạn thì có rất nhiều, nhưng xin đừng bao giờ lãng quên những số phận kém may mắn hơn.

Tôi muốn gửi lời cảm ơn đặc biệt đến những người đã giúp tôi đã giúp tôi biến những tư liệu này thành hiện thực, từ những người đã hào phóng chia sẻ những câu chuyện, tranh ảnh, bài thơ của họ, cho đến những người bạn đã biên dịch tài liệu giúp tôi. Và tôi muốn cảm ơn cả những người đang theo dõi bài viết này.

Nguồn: Dân luận

Ảnh trong bài: Nếu không ghi thêm, tất cả các ảnh trong bài này chỉ mang tính minh họa và có bản quyền như nguồn tin gốc đã đưa.

Tin liên quan

 

Booking.com
Tiêu điểm

Thảo luận

Quảng cáo